TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 180/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 11 năm 2025 |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ và bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Thế T, sinh ngày 02/02/1999 tại Đồng Nai; Số căn cước công dân: 075099006048 cấp ngày 04/03/2022 tại Cục C về TTXH - Bộ C1; Nơi cư trú: Tổ E, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1968 và Bùi Thị Thu T2, sinh năm 1970; Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ hai; Có vợ là Trần Thị Minh T3, sinh năm 1999; chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 20/7/2025, quyết định tạm giữ ngày 21/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 27/7/2025 đến nay tại Trại giam S1 Công an tỉnh Đ.
2. Châu Anh D, sinh ngày 04/9/1986 tại TP . Hồ Chí Minh; Số căn cước công dân: 079086029011 cấp ngày 12/3/2024 tại Cục C về TTXH; Nơi cư trú: 3, đường A, khu phố H, phường L, TP. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Châu Minh S, sinh năm 1966 và bà Trương Mỹ H, sinh năm 1962; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai; Có vợ là Huỳnh Thị Cẩm T4, sinh năm 1988 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự:
+ Tiền án: Ngày 22/9/2022 bị Toà án nhân dân TP ., tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 26/9/2022 bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt tù 01 năm 03 tháng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2023, đóng án phí xong ngày 10/01/2023 và 01/02/2023.
+ Tiền sự: Không
Bị bắt ngày 20/7/2025, quyết định tạm giữ ngày 21/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 27/7/2025 đến nay tại Trại giam S1 Công an tỉnh Đ.
* Bị hại: Bà Bùi Thị Thu T2, sinh năm 1970.
Địa chỉ: tổ E, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Việt T5, sinh ngày 18/4/2006
- Nguyễn Minh T6, sinh ngày 12/9/2004
Nơi cư trú: tổ E, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bị hại, người làm chứng Nguyễn Việt T5 có mặt, Nguyễn Minh T6 vắng mặt, xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2025, Nguyễn Thế T do đang thiếu tiền nợ ở ngoài xã hội và muốn có tiền để trả nợ nên nảy sinh ý định dàn dựng chuyện bị bắt cóc mục đích để đe dọa tống tiền mẹ ruột là bà Bùi Thị Thu T2, sinh năm 1970, nơi thường trú: tổ E, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai. Để thực hiện ý định trên, ngày 19/7/2025 T lên mạng xã hội Facebook để tìm người giúp sức, T sử dụng tài khoản tên “Nguyễn T” vào trang “hội nhóm tìm việc làm” thì thấy Facebook tên "Châu Anh D” tức Châu Anh D, sinh năm 1986, nơi thường trú: Số C, đường A, khu phố L, phường L, thành phố Hồ Chí Minh đang có nhu cầu tìm việc làm, T điện thoại qua M rủ D xuống Đồng Nai, T sẽ có việc cho D làm.
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 19/7/2025, T và D gặp nhau tại xã L, tỉnh Đồng Nai, T nói ý định của mình cho D biết, cả hai bàn bạc thống nhất, phân công D là người bắt cóc T, sử dụng điện thoại và thông báo cho bà T2 biết việc T bị bắt, yêu cầu bà T2 phải chuyển khoản số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng) để chuộc T nếu không thì bán T qua Campuchia, sau khi lấy được tiền T trả công cho D 5.000.000 đồng, D đồng ý. Do không có tiền nên T đã bán chiếc điện thoại Iphone 13 Promax của T với giá 2.600.000 đồng làm chi phí mua một cuộn băng keo và thuê nhà nghỉ H1, địa chỉ: khu A, xã B, tỉnh Đồng Nai để làm địa điểm thực hiện hành vi phạm tội. Tại đây T mượn điện thoại Iphone 7 Plus của D và gắn sim số thuê bao 0908408328 của T vào điện thoại để đăng nhập tài khoản Zalo “T”, D sử dụng tài khoản Zalo của T để liên lạc với bà T2. D lấy băng keo đã chuẩn bị từ trước quấn 02 bàn tay của T lại giống như là đang bị trói, D sử dụng điện thoại, gọi cuộc gọi video đến tài khoản Zalo của bà T2 tên “Bùi Thu T2” mục đích là để cho bà T2 nhìn thấy cảnh T đang trong tình trạng bị trói tay, D thông báo cho bà T2 biết việc T đang bị bắt cóc và yêu cầu bà T2 phải chuyển khoản số tiền chuộc là 180.000.000 đồng vào số tài khoản của T là 0908408328, ngân hàng M1, D đe dọa nếu không chuyển đủ tiền thì sẽ bán T qua bên Campuchia.
Do bị đe dọa và lo sợ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của T nên bà T2 đã kể lại sự việc cho gia đình biết và nhờ con trai ruột là Nguyễn Minh T6, sinh năm: 2004, nơi thường trú: tổ E, ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai chuyển khoản số tiền chuộc 50.000.000 đồng vào tài khoản của T. Khi nhận được tiền thì T đã đã đưa cho D 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T sử dụng để trả nợ, tiêu xài (mua điện thoại Iphone 14 Pro và trả nợ). D tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo tên “T” gọi cho bà T2 để đốc thúc, yêu cầu bà T2 tiếp tục chuyển khoản số tiền 130.000.000 đồng còn lại nhưng bà T2 chưa có tiền và hẹn lại ngày hôm sau sẽ gửi tiếp. Sau đó, D đi về nhà, còn T ở lại nhà nghỉ H1. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/07/2025, D đón xe grab đến nhà nghỉ H1 để gặp T. D tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo tên “T”, liên tục gọi điện thoại và nhắn tin đe dọa bà T2, nội dung “Trước 4h hôm nay không giải quyết thì qua bên Campuchia mà chuộc”. Khi thấy bà T2 chưa trả lời, T nói với D chắc là gia đình chưa chuẩn bị được thêm tiền và thông báo cho bà T2 biết là sẽ giảm số tiền chuộc xuống còn 90.000.000 đồng. Bà T2 đã nhờ con trai ruột là anh Nguyễn Việt T5, sinh năm 2006 (em ruột T) chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) vào số tài khoản của T. Bà T2 thương lượng với D xin hoãn đến 19 giờ cùng ngày sẽ chuyển hết số tiền còn lại là 80.000.000 đồng. T và D tiếp tục thuê nhà nghỉ M2, địa chỉ: số A, ấp G, xã A, tỉnh Đồng Nai để nghỉ và chờ bà T2 chuyển tiền. Vì lo sợ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của T nên bà T2 đã đến Công an xã X, tỉnh Đồng Nai trình báo sự việc T bị bắt cóc, tống tiền.
Sau khi nhận được tin báo, Phòng C2 Công an tỉnh Đ kiểm tra, xác minh và bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thế T và Châu Anh D lúc 19h00 ngày 20/7/2025 tại nhà nghỉ M2. Thu giữ các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số Imei: 355835088089628 của Châu Anh D. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A06, màu đen; số Imei: 355659322176003 của Châu Anh D. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, số Imei: 354615753079505 của Nguyễn Thế T. Số tiền 800.000 đồng của Châu Anh Duy
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo Châu Anh D trả lại số tiền 800.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSVC ngày 31 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai để xét xử Nguyễn Thế T, Châu Anh D về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; Châu Anh D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; Đồng thời đề nghị tịch thu sung công cả 03 điện thoại thu giữ trong vụ án. Còn số tiền 800.000đ trả lại theo yêu cầu của người bị hại.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo T và bị cáo D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
[2]. Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế T, Châu Anh D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/07/2025 và 20/7/2025 tại nhà nghỉ M2, địa chỉ 141, ấp G, xã A, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thế T và Châu Anh D dàn dựng việc Nguyễn Thế T bị Châu Anh D bắt cóc rồi đe dọa, uy hiếp tinh thần của bà Bùi Thị Thu T2 (mẹ ruột của T) để đòi số tiền chuộc là 180.000.000 đồng nếu không sẽ bán T qua Campuchia. Do bị đe dọa và lo sợ T sẽ bị bán qua Campuchia nên bà T2 đã chuyển khoản số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản của T theo yêu cầu. Sau khi nhận được tiền chiếm đoạt từ bà T2, T đã chia cho D số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Trong lúc T và D đang chờ nhận tiền tiếp từ bà T2 thì bị bắt giữ. Như vậy, bị cáo Nguyễn Thế T và Châu Anh D đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, đồng thời gây hoang mang trong dư luận, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần xử phạt các bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo thì thấy: Tuy các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo T giữ vai trò chủ mưu, là người khởi xướng, chủ động tìm kiếm người giúp sức, bàn bạc, phân công và điều khiển quá trình thực hiện hành vi phạm tội; hưởng lợi lớn nhất và giữ vai trò chính trong vụ án nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo D; Bị cáo D biết rõ mục đích phạm tội của T nhưng vẫn tham gia thực hiện và là người trực tiếp thực hiện dàn dựng cảnh T bị bắt cóc, liên lạc đe dọa bị hại để bị hại chuyển tiền vào số tài khoản của T và được hưởng lợi 5.000.000 đồng. Do vậy bị cáo D cũng cần phải chịu mứng án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[3]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T, bị cáo D đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải và đều được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
[4]. Về xử lý vật chứng: đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số Imei: 355835088089628 của Châu Anh D. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A06, màu đen; số Imei: 355659322176003 của Châu Anh D. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, số Imei: 354615753079505 của Nguyễn Thế T đều được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.
Về số tiền 800.000 đồng thu giữ trong vụ án, Châu Anh D khai là số tiền còn lại trong tổng số tiền 5000.000 đồng mà bị cáo đã được chia. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả lại cho bà T2, đồng thời bà T2 cũng xin được nhận lại số tiền này nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bà T2 chỉ yêu cầu được nhận lại số tiền 800.000₫ như đã nêu ở trên, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho bà T2 số tiền còn lại nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6]. Về án phí: Do các bị cáo phạm tội nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[7]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T và bị cáo Châu Anh D phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xử phạt bị cáo Châu Anh D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 7 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số Imei: 355835088089628; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A06, màu đen; số Imei: 355659322176003; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, số I: 354615753079505.
Trả lại cho bà Bùi Thị Thu T2 số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Bà T2 được nhận lại số tiền này từ Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
(Các vật chứng, tài sản này đã được Cơ quan điều tra chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025; Giấy nộp tiền mặt ngày 06/11/2025)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thế T và bị cáo Châu Anh D đều phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Bá Diễn |
Bản án số 180/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI về cưỡng đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 180/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Tâm, Châu Anh Duy dàn dựng tự bắt cóc để đòi tiền chuộc từ người nhà của Tâm, xử phạt 04 năm và 03 năm 06 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản
