Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/DS-PT

Ngày 16/01/2026

V/v: Tranh chấp thừa kế về tài sản

và chia tài sản chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Ông Phan Minh Dũng và bà Võ Thị Hồng Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp thừa kế về tài sản và chia tài sản chung”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 194/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 330/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1953, địa chỉ: Khu phố N, phường Q, tỉnh Gia Lai; có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Trương Trung N1, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ C, KV52, phường Q, tỉnh Gia Lai; có mặt.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Trần Định K, địa chỉ: Số F N, phường Q, tỉnh Gia Lai (theo giấy uỷ quyền ngày 20/8/2025); có mặt.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Bùi Văn N, sinh năm 1953, địa chỉ: Khu phố N, phường Q, tỉnh Gia Lai; có mặt
    • - Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1989 và anh Đỗ Văn L, sinh năm 1973, địa chỉ: Khu phố H, phường Q, tỉnh Gia Lai.
    • - Chị Đỗ Thị Lệ Đ1, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu phố H, phường Q, tỉnh Gia Lai.
    • (Anh L, chị Đ1, anh Đ uỷ quyền ông Bùi Văn N tham gia tố tụng theo giấy uỷ quyền ngày 19/12/2025); có mặt.
  • - Ban Q; địa chỉ: Số H đường Đ, phường Q, tỉnh Gia Lai. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hữu T - Phó giám đốc (theo giấy uỷ quyền ngày 12/9/2025). Ông T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị N2, địa chỉ: Tổ C, KV52, phường Q, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
  • - Bà Trương Thị T1, anh Trương Trung K1, chị Trương Thị S, Trương Thị Hồng S1, chị Trương Thị N3, cùng địa chỉ: Tổ C, KV52, phường Q, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn ông Bùi Văn N trình bày:

Cha ruột ông Bùi Xuân L1 (chết năm nào ông không nhớ), mẹ là Võ Thị H (chết năm 2016) sinh được 02 người con: ông và bà Bùi Thị Kim L2.

Sau khi cha ông chết, khoảng năm 1954 - 1955 mẹ ông tái hôn với ông Trương Trung T2 dưới sự chứng kiến của họ hàng mà không đăng ký kết hôn. Trong thời gian sống chung cụ T2, cụ H không có con chung nên đã xin anh Trương Trung N1 làm con nuôi vào năm 1970; năm 2014 cụ H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với ông N1 và được TAND tỉnh Bình Định chấp nhận theo bản án số 04/2015/HNGĐ - PT ngày 07/4/2015.

Trước khi chung sống với cụ T2, cụ H có 02 con riêng là ông N và bà L2. Bà L2 chết ngày 14/01/2022, ông Đỗ Văn M chồng bà L2 chết ngày 08/01/2001. Vợ chồng bà có 03 người con là Đỗ Văn Đ, Đỗ Văn L, Đỗ Thị Lệ Đ1.

Mặc dù là con riêng của cụ H nhưng ông N là người chung sống với cụ T2, cụ H từ nhỏ và được cụ T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ông N lập gia đình vẫn chung sống và chăm sóc cụ T2, cụ H đến khi cụ T2, cụ H mất; còn bà L2, mặc dù có chung sống với cụ T2, cụ H từ nhỏ nhưng đến khi lập gia đình bà về nhà chồng sinh sống ở thôn H, xã N, Tp. nay phường Q, tỉnh Gia Lai và không thường xuyên qua lại thăm nom, chăm sóc cụ T2 nên bà L2 không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con; về phần ông N1 sinh sống cùng với cụ T2, cụ H từ năm 1970 đến 1994 ra ở riêng nhưng gần nhà với cụ T2, cụ H nên thường xuyên qua lại.

Về nguồn gốc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1, diện tích 6.372,6m2 tại thôn H, xã N thực tế diện tích đất của cha mẹ ông là 5.272,6m2 nhưng năm 2002 Sở địa chính tỉnh qua đo đạc đã đo luôn phần diện tích của cụ Trương L3 là 1.100m2 vào trong thửa đất số 12 tờ bản đồ số 1 diện tích 6.372,6m2.

Thửa đất số 12 tờ bản đồ số 1 diện tích 5.272,6m2 do cha mẹ ông là ông T2 và bà H canh tác; ông T2 chết tháng 2/2011 (AL), bà H bị bệnh không đi lại được nên giao cho anh N1 trông coi từ năm 2011 cho đến khi nhà nước đền bù năm 2015.

Chúng tôi đã chia và nhận xong khoản bồi thường đất: 57.988.600đ, về cây cối hoa màu: 77.002.600đ, còn tiền chuyển đổi nghề và tạo việc làm: 173.995.800đ đang tranh chấp và tiền hỗ trợ hiện nay do Ban Q mặt bằng khu kinh tế giữ chưa chi trả.

Nay ông yêu cầu chia tiền chuyển đổi nghề và tạo việc làm: 173.995.800₫ đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1; cách chia căn cứ vào biên bản ngày 13/6/2013 cụ thể: Ông và ông N1 thờ cúng cha mẹ: 173.995.800đ : 2 = 86.997.900đ; Chia ông, bà L2, ông N1: 86.997.900đ : 3 = 28.999.300đ ; Phần ông nhận: 28.999.300đ + 43.498.950₫ (86.997.900đ :2)=72.498.250đ; Phần ông N1 nhận: 72.498.250đ; Phần bà L2 nhận: 28.999.300đ

* Bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền anh Trần Định K trình bày:

Anh thống nhất lời khai ông N về gia phả, về việc ông N1 được nhận con nuôi và từ chồi con nuôi, về việc chung sống cùng cụ T2, cụ H.

Về nguồn gốc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1, diện tích 6.372,6m2 tại thôn H, xã N do ông N1 khai hoang năm 1982. Anh xác nhận diện tích cha mẹ là 5.272,6m2. Anh xác nhận ông N1 canh tác từ khi khai hoang năm 1982 đến khi giải toả năm 2015.

Về yêu cầu ông N đối với tiền chuyển đổi nghề và tạo việc làm: 173.995.800₫ anh thay mặt ông N1 có ý kiến: Tiền chuyển đổi nghề và tạo việc làm là do ông N1 trực tiếp canh tác từ năm 1982 đến khi giải toả nên khoản tiền này nhà nước cấp cho ông N1; ý kiến của ông N không có cơ sở và không đúng luật, đề nghị Toà xem xét.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Ông Bùi Văn N trình bày: Thống nhất lời trình bày nguyên đơn
  • - Ông Trương Trung N1 trình bày: Thống nhất lời trình bày bị đơn
  • - Anh Đỗ Văn Đ đại diện theo uỷ quyền cho hộ bà Bùi Thị Kim L2 trình bày : Mẹ ruột bà Bùi Thị Kim L2 chết ngày 14.01.2022, cha ruột ông Đỗ Văn M chết ngày 08.01.2001, cha mẹ có 3 người con: Đỗ Văn L, Đỗ Thị Lệ Đ1, Đỗ Văn Đ.
  • Nguồn gốc thửa đất số 12 là của ông ngoại T3 và bà ngoại H để lại; trước đây vào năm 2022 TANDTP Quy Nhơn chỉ giải quyết bồi thường tiền đất chúng tôi không có ý kiến, còn khoản bồi thường hỗ trợ 3 lần chưa giải quyết; phần anh chị em chúng tôi nếu có thì xin nhận, cách phân chia đề nghị Toà giải quyết theo quy định pháp luật để chúng tôi có tiền thờ cúng mẹ (bà L2).
  • - Ông Nguyễn Hữu T đại diện theo uỷ quyền Ban quản lý Dự án và Giải phóng mặt bằng Khu kinh tế trình bày :
  • Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 01, tổng diện tích 6.372,6m2, loại đất (CN) bị ảnh hưởng do GPMB dự án Khu D (nay là Khu D). Trong đó:
  • - Theo Bản án số 122/2023/DS-PT ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án số 212/2022/DS-ST ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn: Xác định diện tích đất 5.272,6m2 là di sản thừa kế của ông Trương Trung T2 và vợ bà Võ Thị H (người thừa kế là ông Bùi Văn N, ông Trương Trung N1, bà Bùi Thị Kim L2).

1. Tài sản bị ảnh hưởng:

  • Đất: Thửa đất số 12, TBĐ số 01, phần diện tích 5.272,6m2 ;
  • Cây cối, hoa màu trên đất.

2. Nguồn gốc sử dụng đất: Thửa đất số 12, TBĐ số 01, phần diện tích 5.272,6m2 theo xác nhận của UBND xã N tại Văn bản số 26/UBND-ĐC ngày 26/07/2012: “Đất có nguồn gốc của ông Trương Trung T2 ở H, N khai hoang sử dụng ổn định trước năm 1993 đến nay không ai tranh chấp, là cha ông Trương Trung N1 cho con sử dụng, đất chưa giao quyền sử dụng, hiện nay sử dụng ổn định không ai tranh chấp, hộ thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp. Hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, có nhà ở tại thôn H.”

3. Giá trị bồi thường, hỗ trợ:

Theo Phương án được duyệt tại Quyết định số 1750/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh, Quyết định số 2259/QĐ-UBND ngày 19/8/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh và Quyết định số 4349/QĐ-UBND ngày 21/11/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B (Đính kèm Quyết định số 1750/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2012; Quyết định số 2259/QĐ-UBND ngày 19/8/ và Quyết định số 4349/QĐ-UBND ngày 21/11/2017): Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ thửa đất số 12, TBĐ số 1, phần diện tích 5.272,6m2 là 308.997.000 đồng. Trong đó:

  • Giá trị bồi thường về đất: 57.988.600 đồng
  • Giá trị bồi thường cây cối hoa màu là 77.002.600 đồng
  • Giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm là 173.995.800 đồng (Trong đó: Tại Quyết định số 1750/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh B: 158.178.000 đồng; Tại Quyết định số 2259/QĐ-UBND ngày 19/8/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B: 15.817.800 đồng).

4. Kết quả chi trả:

Theo Quyết định số 1750/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2012 của UBND tỉnh B: Hộ ông Trương Trung N1 đã nhận tiền bồi thường cây cối, hoa màu của thửa đất số 12, tờ bản đồ số 01 là 77.002.600 đồng tại Phiếu chi số 432BT ngày 31/10/2012 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư

Theo Bản án số 122/2023/DS-PT ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án số 212/2022/DS-ST ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn: Giá trị bồi thường về đất 57.998.600 đồng của thửa đất số 12, tờ bản đồ 01, diện tích 5.272.6m2 là di sản của ông Trương Trung T2 và vợ bà Võ Thị H để lại chia cho ông Bùi Văn N được nhận 28.999.299đ, chia cho ông Trương Trung N1 được nhận 9.666.433đ và chia cho bà Bùi Thị Kim L2 được nhận 19.332.866đ (Tạm giao cho ông Đỗ Văn Đ nhận phần của bà L2 là 19.332.866đ). Các ông, bà trên đã nhận tiền chi trả. Cụ thể:

Theo Quyết định số 897/QĐ-CCTHADS ngày 18/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn: Ông Bùi Văn N đã nhận tiền là 28.999.299 đồng

Theo Quyết định số 910/QĐ-CCTHADS ngày 18/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn: Ông Bùi Văn N đã nhận tiền là 19.332.000 đồng thay cho ông Đỗ Văn Đ theo Giấy ủy quyền ngày 25/12/2023 do UBND xã N chứng thực

Theo Quyết định số 04/QĐ-CCTHADS ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn thì: Ông Trương Trung N1 đã nhận tiền là 9.666.433 đồng

Số tiền còn lại chưa nhận: Giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm là 173.995.800 đồng, sau khi Toà giải quyết Ban sẽ chi trả.

  • - Ông Trương Trung N1 đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị N2 trình bày : ông thống nhất lời trình bày của bị đơn
  • - Các ông bà Trương Thị T1, Trương Trung K1, Trương Thị S, Trương Thị Hồng S1, Trương Thị N3 trình bày: Chúng tôi là thành viên trong hộ gia đình ông Trương Trung N1, tiền hỗ trợ đào tạo nghề nhà nước cấp cho hộ ông N1, đề nghị Tòa giải quyết theo bản án sơ thẩm quy định pháp luật.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 194/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 209, 219, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 654 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 84 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 19, 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 2 luật số 39/2009/QH12 ngày 23.11.2009 Luật người cao tuổi.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ông Bùi Văn N đối số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm.

2. Hộ gia đình ông Trương Trung N1 được hưởng số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 173.995.800đ tại Ban Q kinh tế sau khi án có hiệu lực. Trong đó:

  • - Ông Trương Trung N1, bà Nguyễn Thị N2, chị Trương Thị T1, anh Trương Trung K1, chị Trương Thị S, chị Trương Thị Hồng S1, chị Trương Thị N3 mỗi người nhận số tiền 21.749.475đ;
  • - Ông Bùi Văn N nhận số tiền 10.874.737đ;
  • - Anh Đỗ Văn L, anh Đỗ Văn Đ mỗi người nhận số tiền 3.624.912đ, chị Đỗ Thị Lệ Đ1 nhận số tiền 3.624.914đ (làm tròn)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo:

Ngày 6 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn ông Bùi Văn N có đơn kháng cáo: Đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 194/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai.

  • - Bị đơn không kháng cáo.
  • - Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
  • - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn.
  • - Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm

Về án phí: Các đương sự phái chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu chia số tiền Giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm là 173.995.800 đồng theo Quyết định số 1750/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh B: 158.178.000 đồng và Quyết định số 2259/QĐ-UBND ngày 19/8/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B: 15.817.800 đồng là một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ thửa đất số 12, TBĐ số 1, phần diện tích 5.272,6m².

Điều 84 Luật Đất đai năm 2013, Điều 19, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất xác định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.

Tại thời điểm thu hồi đất có căn cứ xác định hộ ông Nghĩa là người quản lý và trực tiếp sản xuất trên diện tích đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp thừa kế về tài sản và chia tài sản chung”, đồng thời xác định hộ gia đình ông Nghĩa L4 đối tượng được hưởng số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 173.995.800 đồng là đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc đề nghị sửa toàn bộ bản án sơ thẩm thấy rằng:

[2.1] Đối với những thành viên trong hộ gia đình ông N1 tại thời điểm bồi thường:

Tại công văn số 26/UBND- ĐC ngày 26/7/2012 của UBND xã N, thành phố Q (cũ) (BL89-90) và biên bản xác minh ngày 17/9/2025 (BL168), xác nhận hộ ông Trương Trung N1 gồm các thành viên: Ông Trương Trung T2 (chủ hộ) chết năm 2011, bà Võ Thị H (vợ) chết năm 2016, ông Trương Trung N1 (con), bà Nguyễn Thị N2 (dâu), Trương Thị T1 (cháu nội), Trương Trung K1 (cháu nội), Trương Thị S (cháu nội), Trương Thị Hồng S1 (cháu nội), Trương Thị N3 (cháu nội). Tuy nhiên, ông T2 chết trước thời điểm bồi thường nên những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại thời điểm Nhà nước bồi thường được xác định gồm 08 người, gồm: Bà Võ Thị H, ông Trương Trung N1, bà Nguyễn Thị N2, Trương Thị T1, Trương Trung K1, Trương Thị S, Trương Thị Hồng S1, Trương Thị N3.

Như vậy, số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 173.995.800 đồng được chia đều cho 8 người nêu trên.

[2.2] Đối với số tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm mà bà Võ Thị H được nhận:

Bà Võ Thị H chết năm 2011 nên số tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm mà bà Võ Thị H được nhận được xác định là di sản thừa kế do cụ H để lại.

Đối với hàng thừa kế của cụ H, mặc dù ông Nghĩa là con nuôi của cụ H, tuy nhiên tại bản án số 04/2015/HNGĐ-PT ngày 07/4/2015 của TAND tỉnh Bình Định cũ đã có hiệu lực pháp luật đã đã chấm dứt việc nuôi con nuôi được giữa cụ H và ông N1. Vì vậy có căn cứ xác định hàng thừa kế của cụ H là ông N và bà L2. Số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm mà cụ H được hưởng sẽ được chia thừa kế đều cho ông N và bà L2.

Bà L2 chết ngày 14/01/2022, hàng thừa kế của bà L2 gồm: Ông Đỗ Văn Đ, ông Đỗ Văn L và bà Đỗ Thị Lệ Đ1 (là các con ruột của bà L2) nên phần di sản bà L2 được hưởng của cụ H sẽ được chia thừa kế đều cho ông Đỗ Văn Đ, ông Đỗ Văn L và bà Đỗ Thị Lệ Đ1.

[2.3] Đối với cách chia số tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.

Tòa án cấp sơ thẩm chia số tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 173.995.800 đồng cho 8 khẩu thành tiền 21.749.475 đồng/khẩu. Trong đó: Phần của cụ H nhận 21.749.475 đồng chia đều cho 2 con ông N, bà L2, mỗi người được nhận 10.874.737,5 đồng. Phần của bà L2 chia được chia đều cho anh L, anh Đ và chị Đ1, mỗi người được nhận 3.624.912,6 đồng là phù hợp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 209, 219, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 654 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 84 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 19, 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn N.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 194/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai về việc “Tranh chấp thừa kế về tài sản và chia tài sản chung” giữa nguyên đơn ông Bùi Văn N với bị đơn là ông Trương Trung N1.

Tuyên xử:

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ông Bùi Văn N đối số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm.

4. Hộ gia đình ông Trương Trung N1 được hưởng số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 173.995.800đ tại Ban Q kinh tế sau khi án có hiệu lực. Trong đó:

  • - Ông Trương Trung N1, bà Nguyễn Thị N2, chị Trương Thị T1, anh Trương Trung K1, chị Trương Thị S, chị Trương Thị Hồng S1, chị Trương Thị N3 mỗi người nhận số tiền 21.749.475đ;
  • - Ông Bùi Văn N nhận số tiền 10.874.737đ;
  • - Anh Đỗ Văn L, anh Đỗ Văn Đ mỗi người nhận số tiền 3.624.912đ, chị Đỗ Thị Lệ Đ1 nhận số tiền 3.624.914đ (làm tròn)

5. Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm:

  • - Miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho ông Bùi Văn N;
  • - Ông Trương Trung N1, bà Nguyễn Thị N2, chị Trương Thị T1, anh Trương Trung K1, chị Trương Thị S, chị Trương Thị Hồng S1, chị Trương Thị N3 mỗi người chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.087.000đ;
  • - Anh Đỗ Văn L, anh Đỗ Văn Đ, chị Đỗ Thị Lệ Đ1 mỗi người chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND khu vực 1 – Gia Lai;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp thừa kế về tài sản và chia tài sản chung

  • Số bản án: 18/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế về tài sản và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger