|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2026/HNGĐ-ST Ngày 14 - 01 -2026 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thuý Mở
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩn tra viên, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2001, số căn cước công dân: 031301007126; nơi cư trú: phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn: Anh Lê Hồng C, sinh năm 1998, số căn cước công dân: 031098004847; nơi cư trú: phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng.
Chị N và anh C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất trình bày: Anh chị tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn năm 2019 tại Uỷ ban nhân dân xã Trung Hà nay là phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng. Trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị N đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Anh C cũng đồng ý ly hôn. Vợ chồng có 02 con chung Lê Đức Duy, sinh năm 2018, Lê Đăng Khoa, sinh năm 2020. Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, anh C cũng đồng ý giao 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N và anh C không yêu cầu Toà án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Hồng C; giao 02 con chung Lê Đức Duy, sinh năm 2018, Lê Đăng Khoa, sinh năm 2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung chị N và anh C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại năm 2019 UBND xã Trung Hà nay là phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị N và anh C đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, gia đình và địa phương đã tiến hành hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Nay chị N và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Lê Đức Duy, sinh năm 2018, Lê Đăng Khoa, sinh năm 2020. Chị N có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, anh C cũng đồng ý. Vì vậy, cần giao cả 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh C và chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Hồng C.
- Về con chung: Giao con chung Lê Đức Duy, sinh năm 2018, Lê Đăng Khoa, sinh năm 2020 cho chị N trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005647ngày 04 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hànhán hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |
4
Bản án số 18/2026/HNGĐ-ST ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 18/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
