|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 18/2026/DS-PT Ngày 14-01-2026 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng.
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Hoàng Rung K'Nhơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 542/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 57/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 706/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 02/2026/QĐ-PT ngày 06 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức V và bà Huỳnh Thị Thanh T; cùng địa chỉ: Số D, đường V, phường C, thành phố Hồ Chí Minh – Ông V vắng mặt, bà T có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Đ; địa chỉ: Số A E, đường Â, phường C, thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Nguyễn Thành D; địa chỉ: Số H, đường H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Nguyễn Thành D1; địa chỉ: Số F, đường N, phường T, thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
2. Bà Đỗ Thị Hoài T1; địa chỉ: Số C, đường N, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Gia B; địa chỉ: Số D, đường V, phường C, thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Nguyễn Thành D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2025, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Đức V, bà Huỳnh Thị Thanh T trình bày:
Vợ chồng ông V, bà T và ông D có mối quan hệ quen biết từ khoảng năm 2016, năm 2017. Từ cuối năm 2017 đến cuối năm 2018 vợ chồng ông V, bà T có nhiều lần cho ông D vay tiền để mở tiệm áo cưới tại đường N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Các lần cho vay vợ chồng ông V, bà T thường giao tiền mặt cho ông D, không lập giấy tờ hay thế chấp tài sản gì vì ông D nhận bà T là mẹ tinh thần. Khi vay tiền vợ chồng ông V, bà T và ông D có thỏa thuận lãi suất từ 4% đến 5%/tháng vì có nhiều khoản vay khác nhau nên vợ chồng ông V, bà T không xác định được lãi vay cụ thể của từng khoản vay. Kể từ khi vay cho đến nay ông D chưa trả cho vợ chồng ông V, bà T khoản tiền gốc, lãi nào. Đến năm 2018 và năm 2023 vợ chồng ông V, bà T và ông D chốt nợ với nhau quan điện thoại với số tiền nợ gốc là 1.300.000.000đ. Sau khi chốt số tiền nợ 1.300.000.000đ, ngày 02/12/2020 bà T cũng đã nhắn tin qua điện thoại (tại trang 11 của vi bằng có thể hiện nội dung này) cho ông D yêu cầu ông D phải trả cho vợ chồng bà T số nợ trên nhưng ông D không trả và ngày 02/01/2025 vợ chồng ông V, bà T và ông D gặp nhau lập giấy xác nhận ông D có nợ vợ chồng ông V, bà T số tiền 1.300.000.000đ, giấy xác nhận này ông D đã ký tên, điểm chỉ và có ghi nội dung “tôi đã đọc xác nhận và đồng ý”. Trong số tiền nợ 1.300.000.000₫ đã bao gồm số tiền ông V chuyển khoản cho ông D vay qua tài khoản ngày 07/11/2017 với thời hạn mượn là 02 năm, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng. Nay vợ chồng ông V, bà T đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc ông Đỗ Nguyễn Thành D phải trả cho vợ chồng ông V, bà T số tiền nợ gốc là 1.300.000.000đ; số tiền nợ lãi từ tháng 11/2018 đến tháng 02/2025 là 1.300.000.000₫ x 1,66%/tháng x 75 tháng = 1.618.500.000đ. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 2.918.500.000đ và tiếp tục chịu lãi cho đến khi thanh toán xong. Đồng thời, vợ chồng ông V, bà T xác định số tiền nợ trên do ông V, bà T cho ông D vay, không liên quan đến ông Huỳnh Gia B.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Nguyễn Thành D trình bày:
Ông có nhận bà T là mẹ nuôi, từ năm 2017 đến năm 2018 ông không vay tiền của vợ chồng ông V, bà T. Tuy nhiên, giai đoạn này ông nhiều lần nhận tiền mặt từ bà T, tổng số tiền ông nhận bao nhiêu thì ông không nhớ rõ nhưng số tiền ông nhận từ bà T không tới 1.300.000.000đ. Những lần bà T đưa tiền và ông nhận tiền thì hai bên không lập giấy tờ gì như lời trình bày của bà T là đúng, hai bên cũng không thỏa thuận gì về lãi suất, khi bà T đưa tiền cho ông thì bà T cũng không nói rõ tiền gì. Trong thời gian ông sửa chữa cửa hàng của ông để kinh doanh bà T có đưa tiền cho ông để sửa chữa. Ngày 07/11/2017 ông V có chuyển cho ông số tiền 200.000.000đ vào tài khoản số 1400911865 của ông mở tại Ngân hàng B1 với nội dung “Cô chú Vang Thảo cho D mượn tiền thời hạn 2
năm”. Từ khi nhận tiền của bà T, ông V đến nay ông cũng chưa trả cho bà T, ông V khoản tiền gốc, lãi nào. Đến năm 2018 và năm 2023 ông có chốt nợ với bà T qua điện thoại với số tiền nợ là 1.300.000.000đ. Đến ngày 02/01/2025 thì ông V hẹn ông ra quán cà phê đưa cho ông 01 tờ giấy xác nhận nợ và yêu cầu ông ký tên vào giấy này thì ông đã đồng ý ký. Khi ký và lăn tay trên giấy xác nhận trên ông biết trong giấy xác nhận nợ thể hiện nội dung ông có vay của ông V, bà T số tiền 1.300.000.000đ và nội dung chưa đóng lãi lần nào kể từ khi vay đến nay. Việc ông ký vào giấy xác nhận trên là do ông tin tưởng vào mối quan hệ mẹ con của ông và bà T. Qua sao kê tài khoản của mình ông khẳng định ông chưa bao giờ nhận trực tiếp từ vợ chồng ông V, bà T số tiền 1.300.000.000đ kể cả chuyển khoản và nhận tiền mặt. Chữ ký và chữ viết “Tôi đã đọc xác nhận và đồng ý” và dấu lăn tay trong giấy xác nhận nợ ngày 02/01/2025 là của ông. Nay vợ chồng ông V, bà T khởi kiện thì ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông V, bà T. Ông xác nhận ông chỉ có nợ của vợ chồng ông V, bà T số tiền 400.000.000đ. Số tiền nợ 400.000.000₫ này ông căn cứ vào sao kê tài khoản của ông nhận của vợ chồng ông V, bà T ngày 07/11/2017 là 200.000.000đ và 200.000.000đ ông qua nhà bà T ở số A, đường N lấy tiền thể hiện tại tin nhắn giữa ông và bà T tại trang 10 của vi bằng bà T nộp cho Tòa án, số tiền nợ này hai bên không thỏa thuận thời hạn trả nợ và không thỏa thuận lãi suất. Vì vậy, ông chỉ đồng ý trả cho vợ chồng ông V, bà T số tiền nợ 400.000.000đ. Ngoài ra, ông không đồng ý trả cho vợ chồng ông V, bà T thêm khoản tiền nào. Đồng thời, ông xác định ông và ông Huỳnh Gia B không có việc vay mượn tiền, ông B nhắn tin qua tài khoản Zalo tên “A Nô” của ông để yêu cầu ông trả tiền nợ cho vợ chồng bà T.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Gia B trình bày:
Ông là con ruột của bà T, ông V. Khoảng năm 2017, 2018 gia đình ông có quen biết ông Đỗ Nguyễn Thành D và mẹ ông là bà T có nhận ông D làm con nuôi. Sau đó ông D có xuống Thành phố Hồ Chí Minh mở tiệm kinh doanh và nhờ mẹ ông vay tiền làm ăn với mức lãi suất 4%/tháng hoặc 5%/tháng, toàn bộ số tiền lãi mẹ ông là người đóng. Tổng số tiền nợ gốc ông D nhờ mẹ ông vay tính đến thàng 11/20218 là 1.300.000.000đ. Do ông D vay tiền không trả nên ông có nhắn tin để yêu cầu ông D trả tiền cho bà T, ông V. Ông xác định số tiền 1.300.000.000đ là tiền gốc ông V, bà T đang khởi kiện ông D tại Tòa án và giữa ông và ông D không có nợ nần với nhau. Đồng thời, ông xin vắng mặt tại tại các buổi làm việc, hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Huỳnh Thị Đ, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vợ chồng ông V, bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi suất, không yêu cầu ông D phải trả cho vợ chồng ông V, bà T số tiền lãi 884.780.000đ, chỉ yêu cầu ông D phải trả cho vợ chồng ông V, bà T số tiền nợ gốc là 1.300.000.000đ; số tiền nợ lãi từ ngày 01/01/2020 đến 17/9/2025 là 1.300.000.000₫ x 0,83%/tháng x 68 tháng (làm tròn) = 733.720.000đ. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 2.033.720.000đ; tiếp tục chịu lãi cho đến khi thanh toán
xong và tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2015/QĐ-BPKCTT ngày 21/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng); Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 09/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 57/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Buộc ông Đỗ Nguyễn Thành D phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đức V, bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền nợ gốc là 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng), số tiền nợ lãi là 733.720.000đ (Bảy trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng cộng là 2.033.720.000đ (Hai tỷ không trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
2. Đình chỉ xét xử vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Đức V, bà Huỳnh Thị Thanh T về việc yêu cầu ông Đỗ Nguyễn Thành D phải trả cho vợ chồng ông V, bà T số tiền nợ lãi là 884.780.000đ. Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đối với phần yêu cầu đã rút nói trên của vợ chồng ông V, bà T được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về áp dụng BPKCTT, nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30-09-2025, bị đơn ông Đỗ Nguyễn Thành D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau: Ông Đỗ Nguyễn Thành D chấp nhận trả nợ cho ông Nguyễn Đức V và bà Huỳnh Thị Thanh T tổng số tiền 1.800.000.000 đồng (một tỷ tám trăm triệu đồng) trong đó tiền gốc là 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) và tiền lãi 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã tiến hành hòa giải, kết quả các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[2]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên ông Đỗ Nguyễn Thành D là người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 57/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
Ông Đỗ Nguyễn Thành D chấp nhận trả nợ cho ông Nguyễn Đức V, bà Huỳnh Thị Thanh T tổng số tiền 1.800.000.000 đồng (một tỷ tám trăm triệu đồng) trong đó tiền gốc là 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) và tiền lãi 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1.1. Ông Đỗ Nguyễn Thành D phải chịu 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
2.1.2. Trả lại cho ông Nguyễn Đức V và bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền 45.185.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu một trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001854 ngày 05-03-2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng thi hành án Dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng).
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Đỗ Nguyễn Thành D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số
tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004051 ngày 07-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký và đóng dấu Nguyễn Anh Ứng |
Bản án số 18/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 18/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm. Công nhân sự thỏa thuận của các đương sự
