|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2026/HS-PT Ngày: 22 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Quốc Khánh.
2. Ông Phan Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Chính Hào – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 229/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Lê Chí L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo kháng cáo: Lê Chí L; Giới tính: Nam; Sinh: 25/02/1974; Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện tại: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe honda. Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Văn N, sinh năm 1949 và bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1954. Anh, chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1985; Vợ Võ Thị Huỳnh N1, sinh năm 1976 (đã chết); Có 02 con Lê Minh L1, sinh năm 1998; Lê Minh L2, sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: không
Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Trần Thái B - Văn phòng L4 - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Dương Tấn L3; Huỳnh Bửu T và Châu Văn S không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên không triệu tập.
Bị hại: Nguyễn Thị B1, sinh năm 1988, địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh (không triệu tập).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đoàn Văn Út T1, Nguyễn Thị Thanh T2, Nguyễn Thị H, Trần Văn Q, Hồ Đông K, Phan Thị N2, Nguyễn Thị Bửu C (không triệu tập).
Người chứng kiến: Nguyễn Thành N3, sinh năm 2003 (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26/3/2025, Dương Tấn L3 đi bộ từ quán C1 thuộc ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nay là ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh đi ra đường bê tông phía trước quán nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số 62T2-4993 của Nguyễn Thị B1 để trên đường bờ ruộng, chìa khóa vẫn còn để trong ổ khóa công tắc điện. Lúc này, L3 nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô để bán lấy tiền tiều xài. Sau đó, L3 lén lút đi đến chỗ để xe mô tô biển số 62T2-4993, khởi động và điều khiển xe đến nhà của Huỳnh Bửu T thuộc ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nay là ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh. Khi đến nhà của T, L3 gặp T và Châu Văn S. Lúc này, L3 nhờ T và S đem xe mô tô biển số 62T2-4993 đi bán dùm. T hỏi L3 xe này ở đâu mà có, L3 nói với T và Sang xe này do L3 vừa trộm được. T và S đồng ý lấy xe đi bán dùm L3. T sử dụng tài khoản zalo của T gọi vào tài khoản Zalo Lê Chí L là chủ tiệm S1, địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nay là ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh nhờ L cầm hoặc mua xe mô tô biển số 62T2- 4993, L đồng ý và kêu T đem xe đến tiệm sửa xe của L. Sau đó, T kêu S điều khiển xe mô tô nêu trên đến tiệm sửa xe của L. Do S biết xe mô tô biển số 62T2-4993 là do L3 trộm cắp mà có, S sợ chạy xe đến chỗ L sẽ bị lực lượng Công an phát hiện nên tháo gở biển số xe cất giấu tại nhà T rồi điều khiển xe đến giao cho L. L thấy xe không biển số và không có giấy đăng ký xe, nên biết đây là xe máy do phạm tội mà có nên không đồng ý mua. T gọi điện qua ứng dụng Z nói với L nếu L chịu mua xe thì T sẽ trả cho L số tiền 2.500.000 đồng để chuộc lại 01 xe mô tô Dream biển số 53Y8-9276 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy mà T đã cầm cho L trước đó nên L đồng ý mua xe mô tô nêu trên với giá là 3.500.000 đồng. Sau khi trừ số tiền 2.500.000 đồng nêu trên, L đưa cho S số tiền 1.000.000 đồng cùng xe mô tô Dream biển số 53Y8-9276 và điện thoại di động Samsung galaxy màu đen đem về đưa cho T. Lúc này, T điện thoại cho L kêu L cho T mượn 500.000 đồng, L đồng ý nên đưa thêm cho S 500.000 đồng đem về cho T. Tuy nhiên, S để quên điện thoại lại chỗ L nên T gọi điện cho L hỏi về chiếc điện thoại, L nói điện thoại đang để tại tiệm và kêu T xuống lấy. Lúc này, T nói cho L biết về xe mô tô biển số 62T2- 4993 là "Đây là chiếc xe của thằng cháu, nó lấy của bà dì nó, anh tháo ra bán đồ món luôn đi, cho mất dấu luôn". Nghe vậy, L biết xe mô tô biển số 62T2-4993 do phạm tội mà có nên ngày 28/03/2025 L tháo rời từng bộ phận của xe ra khỏi khung xe, sử dụng máy cà lốp xe để cà mất số máy nhằm tránh người khác nhận dạng được. Đến ngày 29/03/2025, L bán khung xe cho một người dàn ông mua bán phế liệu (không rõ họ tên, địa chi) với giá 200.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi bán xe cho L, S về nhà T gặp T, L3. T kêu S đưa tiền bán xe mô tô biển số 62T2-4993 cùng với xe mô tô biển số 53Y8-9276 và điện thoại Samsung của T cho L3, còn lại 500.000 đồng mà L cho T mượn thì S giữ không đưa lại cho T. Số tiền bán xe, L3 cho S 200.000 đồng, cho T 300.000 đồng, còn lại 500.000 đồng Lộc tiêu xài cá nhân.
3
Cùng ngày, L3 nhờ S đem xe mô tô biển số 53Y8-9276 đi thế chấp tại tiệm cầm đồ biển hiệu Quân T3, địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nay là ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh với giá 1.500.000 đồng. Sau khi trừ tiền đi xe thuê, S đưa cho L3 số tiền 1.300.000 đồng, L3 tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 26/3/2025, điện thoại nhãn hiệu Samsung nêu trên của T bị hư hỏng nên L3 trả lại cho T. Đến ngày 27/03/2025, T cho Hồ Đông K, sinh năm 1994, nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nay là ấp L, xã H, tỉnh Tây Ninh điện thoại này.
Ngày 02/4/2025, Nguyễn Thị B1 đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tố cáo sự việc nêu trên và yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật hình sự.
Ngày 02/04/2025, Dương Tấn L3 đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 03/04/2025, Huỳnh Bửu T và Châu Văn S biết Dương Tấn L3 đầu thú nên cùng đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 09/04/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 62T2-4993 trị giá là 6.360.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Dương Tấn L3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Huỳnh Bửu T, Châu Văn S, Lê Chí L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Dương Tấn L3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03/4/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: bị cáo Huỳnh Bửu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03/4/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Châu Văn S 01 (một) năm tù, thời hạn tính từ ngày 03/4/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Chí L 01 (một) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tiếp tục tạm giam bị cáo L3, S, T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2025) để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
4
Ngày 22/09/2025 bị cáo Lê Chí L có đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo; kèm theo đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp xác nhận; “Bằng khen” theo Quyết định số 13/QĐ-UBND.KT ngày 16/01/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ tặng ông Lê Văn N (là cha của bị cáo L) vì đã có thành tích xuất sắc trong tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo phù hợp qui định nên Tòa án tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, do đó cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Chí L 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là không có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Đồng thời tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như gây thiệt hại không lớn là không có căn cứ.
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh và điều luật mà cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm dân sự như: bị cáo thật thà khai báo và ăn năng hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ mất sớm bị cáo phải lao động nuôi 02 con, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo L không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, để bị cáo được ở nhà lao động nuôi con và chăm sóc cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo phù hợp qui định nên Tòa án tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Chí L xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
5
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Chí L thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng với bản kết luận về định giá tài sản số 19/KL.HĐĐGTS ngày 09/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Do muốn kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng 16 giờ ngày 26/3/2025, tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (cũ) nay là ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh, Dương Tấn L3 có hành vi lén lút trộm của bà Nguyễn Thị B1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 62T2- 4993 trị giá 6.360.000 đồng. Huỳnh Bửu T, Châu Văn S, Lê Chí L biết rõ xe mô tô trên là do Dương Tấn L3 trộm mà có nhưng vẫn thực hiện hành vi tiêu thụ xe nêu trên. Do đó, cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo L3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và các bị cáo T, S, L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo L3, bị cáo T 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo S, bị cáo L 01 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo .
[4] Bị cáo Lê Chí L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có nộp bổ sung thêm “Bằng khen” theo Quyết định số 13/QĐ-UBND.KT ngày 16/01/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ tặng ông Lê Văn N (là cha của bị cáo) vì đã có thành tích xuất sắc trong tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét. Đối với đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp xác nhận, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ mất sớm một mình vừa làm vừa chăm sóc cha mẹ già yếu và nuôi 02 con; đây là tình tiết mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; nếu không phạt tù giam thì cũng cải tạo bị cáo trở thành người có ít cho xã hội, tạo điều kiện để bị cáo lao động nuôi cha, mẹ già và chăm sóc 02 con thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, căn cứ quy định tại Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về địa phương để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo L được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Chí L về hình phạt, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - tỉnh Tây Ninh.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Chí L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Chí L 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là (22- 01-2026).
Giao bị cáo Lê Chí L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Chí L không phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 18/2026/HS-PT ngày 22/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 18/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Chí L "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
