|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2026/DS-PT Ngày: 12/01/2026 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Định
Ông Trần Nam Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/01/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 509/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 834/2025/QĐ-PT ngày 28/11/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Hữu H; sinh năm: 1968. Địa chỉ: 2 đường N, phường P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện uỷ quyền: Ông Lê Văn C; sinh năm: 1972. Địa chỉ: D đường D, phường A, TP .; có mặt.
Bị đơn: Ông Lê Tấn T; sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 1 đường T, phường C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1984; địa chỉ: 2 Đường C, phường T, thành phố Cần Thơ; có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Tấn T.
NỘI DUNG VỤ KIỆN:
* Nguyên đơn Phạm Hữu H khởi kiện cho rằng: Ông Phạm Hữu H với ông Lê Tấn T có mối quan hệ anh em làm ăn thân thiết. Ông Lê Tấn T muốn kinh doanh dịch vụ xe cứu hộ và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không có tiền nên đề nghị ông H cho ông T vay tiền, ông T trả lãi 3%/tháng cho ông H; các bên không có thoả thuận thời hạn trả.
Do ông H không có tiền đưa cho ông T vay nên ông H đi vay của người khác để cho ông T vay lại. Để ông H đi vay được tiền của người khác thì ông H phải có tài sản do ông H đứng tên để làm tin với bên cho vay nên khi ông T vay tiền để đi mua xe và mua đất thì ông T đã để ông H đứng tên giấy đăng ký.
Do đó, ông H đã cho ông T vay nhiều lần, tổng cộng số tiền ông H đã đưa cho ông T vay là 935.000.000 đồng tiền vốn gốc; cụ thể:
- + Ông H đã chuyển khoản 04 lần cho T vay để mua xe: ngày 22/9/2022: chuyển khoản 300.000.000đ; ngày 28/9/2022: chuyển khoản 355.000.000đ; ngày 11/10/2022 chuyển khoản 50.000.000đ; ngày 10/02/2023 chuyển khoản 30.000.000đ; tổng cộng: 735.000.000 đồng.
- + Ông H đưa tiền mặt cho ông T vay 200.000.000₫ để mua đất vào tháng 6/2022.
Từ lúc vay đến trước tết nguyên đán năm 2025, ông T có chuyển khoản trả cho ông H số tiền 120.000.000 đồng. ông T chưa trả vốn và lãi.
Như vậy, tiền vốn gốc ông T vay của ông H là 935.000.000đ và tiền lãi từ lúc vay đến nay, ông H có trừ vào số tiền 120.000.000₫ ông T đã trả nên hiện nay ông H khởi kiện chỉ yêu cầu ông T phải trả cho ông H số tiền 800.000.000 đồng. Ông H không yêu cầu tính lãi; chỉ yêu cầu tính lãi giai đoạn chậm thi hành án.
Đối với việc ông T cho rằng ông H có hùn vốn mua thửa đất số 2888 ở B và để cho ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông H đã mang giấy chứng nhận đi cầm để lấy tiền nên khi ông T chuyển nhượng thửa đất cho người khác với giá 1.400.000.000 đồng thì ông T phải trả tiền ông H đã cầm cố giấy chứng nhận gồm gốc và lãi tổng cộng 1.100.000.000 đồng, ông T chỉ còn giữ lại 300.000.000 đồng nên ông T không đồng ý trả số tiền vay này cho ông H và ông T yêu cầu ông H phải trả cho ông T số tiền 1.100.000.000đ thì phía ông H xin trình bày như sau:
Ông T1 là anh ruột của ông T có mượn ông T giấy chứng nhận để đi cầm cố, vay số tiền 500.000.000 đồng. Số tiền cầm cố giấy chứng nhận là do ông T1 (anh của ông T) nhận, ông H không có nhận tiền cầm cố giấy chứng nhận. Đến năm 2025, ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người nhận cầm cố yêu cầu trả gốc và lãi tổng cộng là 1.100.000.000 đồng mới đồng ý trả lại giấy chứng nhận; ông H chỉ là người đứng ký tên hợp đồng cho ông T. Do đó, nếu ông T có tranh chấp đối với số tiền này thì đề nghị giải quyết trong vụ kiện khác.
Bị đơn ông Lê Tấn T cho rằng: Ông thừa nhận có vay của ông H số tiền như ông H trình bày như trên là đúng, mục đích để chuyển nhượng đất. Lãi suất thoả thuận không nêu cụ thể là bao nhiêu phần trăm/tháng nhưng ông hứa sẽ trả tiền lãi cho ông H mỗi tháng là 10.000.000 đồng.
Nay ông thừa nhận là ông H có chuyển khoản tiền vay cho ông 04 lần như ông H trình bày nêu trên với số tiền chuyển khoản tổng cộng là 735.000.000đ và đưa tiền mặt 200.000.000 đồng là đúng.
Vào trước tết nguyên đán năm 2025, ông đã đóng lãi cho ông H tổng cộng 120.000.000 đồng.
Tuy nhiên, trong quan hệ làm ăn giữa ông với ông H còn có sự việc như sau:
Ông và ông H cùng nhận chuyển nhượng một phần đất tại thửa 2888, tờ bản đồ số 15 diện tích 96.7m² ODT toạ lạc tại Khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ do bà Nguyễn Thị M đứng tên với giá 1.100.000.000 đồng vào tháng 6/2022. Trong đó, phần ông H hùn là 550.000.000 đồng; phần giá trị còn lại do ông thanh toán. Do tin tưởng ông H nên để ông H đứng tên thửa đất.
Ông Phạm Hữu H có chuyển khoản cho ông 370.000.000 đồng và đưa tiền mặt là 200.000.000 đồng.
Tuy nhiên, ông H đã lấy giấy tờ đất đi cầm cố cho người khác khi chưa có sự đồng ý của ông. Sau đó, vào tháng 5/2025, khi ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất này lại cho người khác với giá 1.400.000.000 đồng thì ông H phải trả tiền gốc và lãi cho người đã cầm cố 1.100.000.000 đồng tại Văn phòng công chứng để lấy lại giấy đất ký hợp đồng sang tên chuyển nhượng cho người sau.
Ông là người nhận tiền chuyển nhượng 1.400.000.000 đồng và trả tiền ông H cầm cố giấy chứng nhận cho người ta với số gốc + lãi cho tổng cộng 1.100.000.000 đồng nên ông chỉ còn giữ lại được 300.000.000 đồng.
Nay ông không đồng ý việc nguyên đơn yêu cầu ông trả số tiền vay 800.000.000đ. Ông yêu cầu ông H phải trả cho ông số tiền 1.100.000.000 đồng. Tuy nhiên, do ông không có tiền nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu khởi kiện phản tố nên ông chưa nộp đơn khởi kiện phản tố trong vụ kiện này.
Do không thương lượng được nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 31/2025/DSST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Hữu H.
Buộc ông Lê Tấn T phải trả cho ông Phạm Hữu H số tiền vay còn nợ tổng cộng là 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, ông Lê Tấn T còn phải chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi thi hành án xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tấn T phải chịu 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) án phí.
Ông Phạm Hữu H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng) theo biên lai số 0001562 ngày 12/5/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tuyên xử bị đơn ông Lê Tấn T đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số nợ còn thiếu là 800.000.000 đồng, bị đơn đã thừa nhận số nợ này. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp. Bị đơn cho rằng hai bên còn hùn chuyển nhượng đất và bị đơn yêu cầu cấn trừ. Nếu bị đơn có chứng cứ thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
Đại diện bị đơn bà Nguyễn Thu H1 trình bày: Bị đơn đã chuyển khoản lại cho nguyên đơn hơn 800.000.000 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không cấn trừ là thiệt thòi quyền lợi cho bị đơn. Số tiền chuyển trả này đã sao kê ở ngân hàng, tài khoản nhận thụ hưởng là nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án trên để xét xử lại hoặc sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nguyên đơn có chuyển cho bị đơn tổng cộng 935.000.000 đồng. Bị đơn có chuyển trả 120.000.000 đồng đây là tình tiết chứng cứ không phải chứng minh vì hai bên đều thừa nhận. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 800.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi là có lợi cho phía bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Tuy nhiên, phía bị đơn cho rằng ngoài việc vay tiền của bị đơn hai bên còn hùn nhau chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bị đơn cũng đã chuyển trả tiền trên 800.000.000 đồng cho nguyên đơn nhưng chưa được cấn trừ.
Xét các yêu cầu này của bị đơn nhận thấy: Phía bị đơn có cung cấp các chứng cứ hùn tiền và chứng cứ chuyển trả tiền cho nguyên đơn nhưng phía bị đơn không phản tố để Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Bị đơn kháng cáo không cung cấp được chứng cứ mới cho việc vay tiền. Nếu có chứng cứ hùn tiền chuyển nhượng đất và chuyển trả tiền cho nguyên đơn thì tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 800.000.000 đồng. Bị đơn không đồng ý.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì thể hiện: Ông H có cung cấp được sao kê đã chuyển khoản cho ông Lê Tấn T 04 lần, tổng cộng số tiền 735.000.000 đồng; cụ thể: ngày 22/9/2022: chuyển khoản 300.000.000 đồng; ngày 28/9/2022: chuyển tiếp 355.000.000 đồng; ngày 11/10/2022 chuyển : 50.000.000 đồng; ngày 10/02/2023: 30.000.000 đồng và bị đơn là ông T cũng thừa nhận đã nhận 04 lần tiền do ông H chuyển khoản, tổng cộng 735.000.000 đồng và tiền mặt do ông H đưa là 200.000.000 đồng vào tháng 6/2022. Hai bên cũng thừa nhận có lãi suất và thời hạn trả nợ. Vì vậy, có thể xem đây là chứng cứ không cần phải chứng minh vì nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền ông H đưa cho ông T tổng cộng 935.000.000 đồng. Ông T có chuyển trả lãi nên ông H đồng ý đòi ông T trả 800.000.000 đồng.
Căn cứ theo quy định tại Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đây là tiết không cần phải chứng minh vì các bên thừa nhận và có các chứng cứ.
Xét số tiền: Ông T đã nhận tiền vay của ông H nhiều lần, từ tháng 6 năm 2022 đến ngày 10/02/2023, tổng cộng 935.000.000đ. Ông H thừa nhận vào trước tết nguyên đán năm 2025, ông T có chuyển khoản trả cho ông H 120.000.000 đồng. Căn cứ vào lời trình bày nên ông H yêu cầu ông T trả 800.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn.Ông H không yêu cầu lãi mà chỉ tính từ lúc thi hành án là có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Xét yêu cầu của ông T: Ông T cho rằng: do ông H mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 2888 toạ lạc tại B, thành phố Cần Thơ của ông đi cầm cho người khác dẫn đến việc khi ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất này thì ông phải trả 1.100.000.000 đồng để lấy lại giấy chứng nhận nên ông không đồng ý trả số tiền vay 800.000.000 đồng cho ông H; đồng thời, ông yêu cầu ông H phải trả cho ông số tiền 1.100.000.000 đồng.
Xét yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng: việc tranh chấp liên quan đến việc hùn vốn hay cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông T với ông H thì do ông T không có đơn khởi kiện (phản tố) và nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu khởi kiện (phản tố) để bù trừ nghĩa vụ của ông T (nếu có) trong vụ kiện này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét giải quyết. Tại giai đoạn thụ lý phúc thẩm phía ông T cung cấp cho Tòa án các lần chuyển tiền cho ông H số tiền trên 800.000.000 đồng và đề nghị cấn trừ. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không đồng ý. Do đó, nếu các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[3] Xét kháng cáo của ông T: Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì khác. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Tấn T phải chịu 36.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tấn T. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Hữu H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Lê Tấn T phải trả cho ông Phạm Hữu H số tiền vay còn nợ tổng cộng là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng).
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, ông Lê Tấn T còn phải chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi thi hành án xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Lê Tấn T phải chịu 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).
Ông Phạm Hữu H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng) theo biên lai số 0001562 ngày 12/5/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002608 ngày 26/8/2025 thành tiền án phí tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Ông T đã nộp đủ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND thành phố Cần Thơ;
- - TAND KV 3 - Cần Thơ;
- - Phòng THADS KV 3 – Cần Thơ;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
Thành viên Hội đồng xét xử Trần Nam Trung - Nguyễn Quốc Định |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 18/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 18/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Phạm Hữu H khởi kiện ông Lê Tấn T về đòi tiền vay
