|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 17/2026/DS-PT Ngày 30 - 01 - 2026 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Vương Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa công khai xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 86/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 178/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2026/QĐ-PT ngày 15/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1968, số CCCD: 045168001221 và ông Mai Đức T1, sinh năm 1965, số CCCD: 045065001011; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị. Bà T có mặt, ông T1 vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1994, số CCCD: 045194000883; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/5/2025). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Viết V, sinh năm 1954, số CCCD: 045054000998 và bà Lê Thị G, sinh năm 1960, số CCCD: 045160005099; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Ngọc M và Luật sư Mai Thị Tuyết N1 - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số D đường B, phường N, tỉnh Quảng Trị. Đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Mai Thị B, sinh năm 1988, số CCCD: 045188005753; địa chỉ: Thôn T, xã V, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Chị Mai Thị B (H), sinh năm 1990, số CCCD: 045190004355; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Chị Mai Thị L, sinh năm 1991, số CCCD: 045191008677; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Chị Mai Thị T2, sinh năm 1993, số CCCD: 045193001344; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Anh Mai Đức S, sinh năm 1995, số CCCD: 045095008595; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị B, chị B (H), chị L, chị T2, anh S: Bà Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1994, số CCCD: 045194000883; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị là (văn bản ủy quyền ngày 29/5/2025). Có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Võ Viết V và bà Lê Thị G; địa chỉ: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/4/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Vào năm 2003, theo chủ trương dồn điền đổi thửa của Nhà nước, hộ ông Mai Đức T1 và bà Lê Thị T được chia ruộng để sản xuất tại vùng ruộng S, thuộc thôn P, xã H (nay là Thôn P, xã V). Tại thời điểm hộ ông T1, bà T nhận ruộng, đã có kênh mương thuỷ lợi chạy dọc theo ruộng nhà bà T, ông T1 và khu dân cư phía đường ĐT 583. Ngày 30/11/2006 hộ ông T1 và bà T được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận số AI 166467, thửa đất số 509, tờ bản đồ số 12, diện tích 999 m2 trên vùng ruộng Sãi Sãi được chia. Hộ ông T1, bà T đã sử dụng ruộng, sản xuất ổn định từ năm 2004 đến năm 2017, không có tranh chấp. Đến năm 2018, các hộ dân sinh sống dọc theo đường ĐT 583 đã lấn chiếm kênh mương thuỷ lợi và xả rác thải sinh hoạt xuống ruộng của hộ ông T1, trong đó có hộ gia đình ông Võ Viết V. Vì vậy, thửa ruộng của hộ ông T1 bị ô nhiễm, không sản suất được lúa. Gia đình ông T1 đã thoả thuận với các hộ dân, trong đó có hộ ông Võ Viết V để các hộ dân sử dụng trồng môn, chuối và đóng lúa cho hộ ông T1 để ông T1 đóng sản lượng cho Hợp tác xã P. Đến năm 2019 ông Võ Viết V đã viết giấy thoả thuận với hộ ông T1 xin tiếp tục sử dụng 125 m2 phần ruộng phía sau nhà ông V và đóng lúa cho hộ ông T1, bà T. Năm 2023, gia đình ông V xây dựng thêm mái che lợp tôn xâm chiếm đất ruộng của hộ ông T1, bà T. Hiện nay, ngoài việc xây dựng thêm mái che, hộ ông V, bà G đã tiếp tục lấn chiếm thêm diện tích đất ruộng và dùng lưới thép B40 rào lại, qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích là 201 m2. Vì vậy, ông Mai Đức T1 và bà Lê Thị T yêu cầu ông Võ Viết V, bà Lê Thị G phải tháo dỡ công trình xây dựng gồm mái che lợp tôn, khung sắt, hàng rào lưới thép B40, thu hoạch môn, chuối và các cây trồng, trả lại 201m2 đất thuộc thửa số 509, tờ bản đồ số 12 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 166467 vào ngày 30/11/2006 cho hộ ông Mai Đức T1 và bà Lê Thị T.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Võ Viết V và bà Lê Thị G trình bày:
Không đồng ý với ý kiến của nguyên đơn, bởi vì thửa đất gia đình ông bà sử dụng được bố mẹ bà Lê Thị G cho từ năm 1988, đến năm 1990 gia đình ông V làm nhà ở và sử dụng cho đến nay. Gia đình bà T đã ký xác nhận không tranh chấp đất cho gia đình ông V nên đến năm 2023 ông V, bà G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích nguyên đơn yêu cầu trả lại nằm trong 150m2 đất ruộng ô nhiễm được Hợp tác xã P chia cho gia đình ông từ tháng 10/1992. Từ năm 1993 đến năm 2023, hằng năm gia đình ông V vẫn đóng sản lượng cho Hợp tác xã. Phần đất này không bị tranh chấp, không bị Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo nên chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Viết V, bà Lê Thị G, Hội đồng xét xử thấy: Việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ bà T được thực hiện đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Đất đai năm 2003. Vì vậy, yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có cơ sở.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Viết V và bà Lê Thị G.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Đức T1 và bà Lê Thị T.
Buộc ông Võ Viết V và bà Lê Thị G phải trả lại diện tích 201m2 thuộc thửa đất số 509, tờ bản đồ số 12, (nay là thửa số 509, tờ bản đồ số 51, tại thôn P, xã V, tỉnh Quảng Trị), đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 166467 vào ngày 30/11/2006 cho hộ ông Mai Đức T1 và bà Lê Thị T.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - TAND KV6; - THADS tỉnh Quảng Trị; - THADS KV 6; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 17/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 17/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Th kiện tranh chấp QSD đất với ông Võ Viết V
