|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 16/2026/HSST Ngày 27/01/2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.
Thẩm phán: Bà Lại Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn, bà Đinh Thị Kim Dung, bà Lèo Thị Chan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 22/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2026/HSST-QĐ ngày 13/01/2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh ngày 27 tháng 01 năm 1984 tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Toàn T và con bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Lê Thị Hoài T1 (đã ly hôn năm 2017), có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/4/2021, UBND phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chống người thi hành công vụ, phạt tiền 4.000.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 đến nay, có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Chu Đ, ông Nguyễn Hồng V – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Chu Đông đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: P, B Tập thể K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Các bị hại:
- + Ông Cà Văn I, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Bản S, xã M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- + Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Bản Tả, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Ông Quàng Văn H1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Bản Đ, xã N, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Ông Quàng Văn P, sinh năm 1963; ông Cà Văn T2, sinh năm 1983. Cùng cư trú tại: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Ông Lò Văn T3, sinh năm 1965, ông Cà Văn Y, sinh năm 1991; ông Quàng Văn H1, sinh năm 1983. Cùng cư trú tại: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- + Ông Lèo Văn Q, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Bản H, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Bản Tả, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K được tuyển dụng công tác tại Ngân hàng N (A1) - Chi nhánh M từ ngày 15/01/2011 với vị trí nhân viên Phòng Kế hoạch kinh doanh. Ngày 01/8/2018, K đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Do lâm vào tình trạng nợ nần, không có khả năng tài chính, để có tiền trả nợ, đánh bạc trên mạng Internet và chi tiêu cá nhân, K đã lợi dụng vị trí công tác là nhân viên quản lý hồ sơ vay vốn của các khách hàng tại ngân hàng A1, đưa ra các thông tin gian dối: Vay tiền để mua đất, đảo nợ cho khách hàng, ngân hàng chưa có tiền giải ngân nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 9/2017, thông qua thủ đoạn gian dối trên, Nguyễn Văn K đã chiếm đoạt tổng số tiền 1.370.000.000đ của 10 bị hại, cụ thể:
- Chiếm đoạt của ông Quàng Văn H1, sinh năm 1981, trú tại bản Đ, xã N, tỉnh Sơn La 25.000.000đ.
- Chiếm đoạt của ông Cà Văn I, sinh năm 1987, trú tại bản Sang, xã M, tỉnh Sơn La 300.000.000đ.
- Chiếm đoạt của ông Hoàng Văn L, sinh năm 1969, trú tại bản Tả, xã C, tỉnh Sơn La 290.000.000đ.
- Chiếm đoạt của ông Quàng Văn P, sinh năm 1965; ông Cà Văn T2, sinh năm 1983; ông Lò Văn T3, sinh năm 1965; ông Cà Văn Y, sinh năm 1991; ông Quàng Văn H1, sinh năm 1983. Cùng cư trú tại bản Hát Hay, xã C, tỉnh Sơn La tổng 450.000.000đ.
- Chiếm đoạt của ông Lèo Văn Q, sinh năm 1973, trú tại bản Hua Bó, xã M, tỉnh Sơn La 40.000.000đ.
- Chiếm đoạt của bà Hoàng Thị B, sinh năm 1973, trú tại bản Tả, xã C, tỉnh Sơn La 265.000.000đ.
Tháng 5/2016, Quàng Văn H1 làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M số tiền 500.000.000đ mục đích mua nông sản, gia súc. Ngày 01/6/2016, H1 đến Ngân hàng làm thủ tục đề nghị giải ngân khoản vay trên, Nguyễn Văn K là cán bộ quản lý khoản vay. Sau khi thực hiện xong thủ tục, K đưa ra thông tin gian dối cần tiền mua đất và hỏi vay H1 50.000.000đ, hẹn 05 ngày sau sẽ trả, H1 tin tưởng và đồng ý cho K vay số tiền trên. Sau khi thấy K không trả nợ đúng hạn, H1 nhiều lần yêu cầu K phải trả tiển. Cuối tháng 6/2016, K đã trả cho H1 25.000.000đ. Số tiền 25.000.000đ K chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân.
Khoảng tháng 6/2016, Cà Văn I đến giao dịch tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M. Do biết I là tổ trưởng Tổ vay vốn bản Sang, K đưa ra thông tin gian dối cần tiền mua đất và nhờ I bảo các hộ cần vay vốn trong bản làm hồ sơ vay cao hơn nhu cầu để cho K vay, đối với khoản vay tăng thêm K sẽ tự trả gốc và lãi, I đồng ý.
Do biết các hộ Lường Văn Y1, Lường Văn H2, Lường Văn I1, Tòng Văn L1, Lò Thị T4, Cà Văn T5 (cùng trú tại bản Sang, xã M, tỉnh Sơn La) đang có nhu cầu vay vốn ngân hàng, I1 đề nghị các hộ trên nâng mức vay và cho I1 vay lại mỗi hộ 500.000.000đ, I1 sẽ tự trả gốc và lãi, 06 người đồng ý. Trong thời gian từ 11/10/2016 đến 08/11/2016, Lường Văn I1, Y1, H2, L1, T4 và T5 nhận tiền giải ngân, mỗi người cho I1 vay 50.000.000đ, tổng 300.000.000đ. I1 nhận tiền và đưa toàn bộ cho K vay. Thời gian sau, thấy Cà Văn I không trả lãi ngân hàng khoản vay tăng thêm theo thỏa thuận, sau khi I giải thích tiền do I vay hộ Nguyễn Văn K, 06 cá nhân trên yêu cầu K viết giấy vay nợ với từng người, hẹn đến tháng 4/2017 và tháng 4/2018 sẽ trả nợ. Quá thời hạn hẹn, K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Số tiền 300.000.000đ chiếm đoạt được của Cà Văn I, K sử dụng chi tiêu cá nhân.
Ngày 05/10/2016, Hoàng Văn L làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M số tiền 900.000.000đ mục đích mua gia súc, nông cụ sản xuất. Ngày 14/7/2017, L đến ngân hàng làm thủ tục đề nghị giải ngân 350.000.000đ trong hạn mức tín dụng của khoản vay trên, Nguyễn Văn K là cán bộ quản lý khoản vay. Sau khi thực hiện xong thủ tục, K nói dối cần tiền để đảo nợ ngân hàng và hỏi vay Liêm 350.000.000đ, hẹn đến ngày 13/8/2017 sẽ trả. Liêm tin tưởng và đồng ý cho K vay số tiền trên, K viết giấy vay nợ với thông tin số tiền vay và thời gian trả nợ như đã thỏa thuận nêu trên và đưa lại cho L giữ. Sau khi thấy K không trả nợ đúng hạn, L nhiều lần yêu cầu K phải trả tiền. Trong năm 2019, K đã nhờ Nguyễn Chí V1 (thời điểm đó là Giám đốc Ngân hàng A1 – Chi nhánh M) trả cho L 50.000.000đ, K trả trực tiếp vào khoản vay của L tại ngân hàng 10.000.000đ. Số tiền 290.000.000đ K chiếm đoạt chi tiêu cá nhân.
Tháng 01/2015, Quàng Văn Phòng, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M mục đích mua gia súc, nông sản. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, tùy thời điểm phát sinh nhu cầu sử dụng vốn vay, các cá nhân trên đã nhiều lần đề xuất giải ngân và trả nợ khoản vay nhưng chưa tất toán hợp đồng. Ngày 27/9/2017, Quàng Văn P, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 cùng đến ngân hàng làm thủ tục đề nghị giải ngân hợp đồng vay vốn, Nguyễn Văn K là cán bộ quản lý khoản vay của các cá nhân trên. Sau khi nhận tiền giải ngân, K đưa ra thông tin gian dối cần tiền mua đất và đề nghị vay mỗi cá nhân 90.000.000đ, hẹn đến ngày 02/10/2017 sẽ trả, các cá nhân trên đồng ý, K viết giấy vay tiền với nội dung số tiền vay và thời gian trả nợ như đã thỏa thuận trên. Quá thời hạn trả nợ, K không trả tiền và chiếm đoạt toàn bộ số tiền 450.000.000đ vào chi tiêu cá nhân.
Ngày 16/3/2017, Lèo Văn Q làm thủ tục vay vốn số tiền 100.000.000đ tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M mục đích kinh doanh. Cùng ngày, Q làm thủ tục đề nghị giải ngân toàn bộ số tiền trên, Nguyễn Văn K là cán bộ quản lý khoản vay. Sau khi nhận tiền giải ngân, K đưa ra thông tin gian dối cần tiền mua đất và đề nghị vay Quyết 40.000.000đ, hẹn 03 ngày sau sẽ trả, Q đồng ý. Quá thời hạn trả nợ, K không trả tiền và chiếm đoạt số tiền 40.000.000đ vào mục đích chi tiêu cá nhân.
Ngày 13/9/2017, Hoàng Thị B làm thủ tục vay vốn số tiền 400.000.000đ tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M theo Hợp đồng tín dụng số 7905LAV20170082/HĐTD. Cùng ngày, B làm thủ tục đề nghị giải ngân toàn bộ số tiền trên, Nguyễn Văn K là cán bộ quản lý khoản vay. Quá trình làm hồ sơ, K đưa ra thông tin tiền giải ngân phải chuyển đến tài khoản ngân hàng khác hệ thống A1 mới rút được tiền. Sau khi được Bay nhất trí, K điền thông tin số tài khoản nhận tiền là 41310000072211 của Ngân hàng TMCP Đ1 mang tên Lê Thị Q1 (người quen của K). Sau đó K nhờ Q1 rút toàn bộ số tiền trên đổi thành tiền mặt, K đưa lại cho B 100.000.000đ và nói dối 300.000.000đ ngân hàng đang hết tiền, chưa giải ngân được và sẽ đưa tiền cho B sau. Thời gian sau, Bay nhiều lần liên lạc yêu cầu K trả tiền nhưng K trốn tránh gặp mặt, không nghe điện thoại. Khoảng tháng 7/2018, K nhờ Nguyễn Chí V1 trả vào khoản vay của B 35.000.000đ. Số tiền 265.000.000đ K chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân, trả nợ.
Ngày 19/7/2021, Hoàng Thị B, Hoàng Văn L, Quàng V, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 (xã C) có đơn trình báo gửi Công an huyện M. Ngày 08/10 và 09/10/2025, Cà Văn I, Lèo Văn Q, Quàng Văn H1 (xã N) gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, các cá nhân trên tố giác Nguyễn Văn K có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngày 01/8/2018, Nguyễn Văn K nghỉ việc tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M, không sinh sống tại địa phương theo địa chỉ đăng ký thường trú. Ngày 27/8/2025, K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S triệu tập làm việc, K khai nhận trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 9/2017 K đã lợi dụng vị trí công tác là nhân viên quản lý hồ sơ vay vốn của các khách hàng tại ngân hàng A1, đưa ra các thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của Hoàng Thị B, Hoàng Văn L, Quàng V, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1.
Ngày 28/8/2025, Nguyễn Văn K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh S thi hành Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Ngày 25/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra Quyết định trưng cầu giám định số 5179/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng Kỹ thật hình sự - Công an tỉnh S giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn K trên các Giấy vay tiền, Giấy cam kết trả nợ do các bị hại giao nộp trong quá trình điều tra; chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị B trên Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ ngày 13/9/2017 và ngày 13/9/2018.
Kết luận giám định số 1428/QĐ-KTHS ngày 28/11/2025 của Phòng K1 công an tỉnh S, kết luận:
- Chữ ký, chữ viết mang tên “Nguyễn Văn K” dưới mục “Người vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1; dưới mục “Bên vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2; dưới mục “Người cam kết” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3; dưới mục “Người viết cam kết” trên mẫu cần giám định ký hiệu A4 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn K trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên “Hoàng Thị B” dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A5; dưới mục “NGƯỜI VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A6; dưới cột “Người vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A7; dưới mục “NGƯỜI VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A8; dưới cột “Chữ ký của khách hàng (nếu có)” trên mẫu cần giám định ký hiệu A9; dưới mục “KHÁCH HÀNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A10 so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị B trên các mẫu so sánh ký hiệu M6, M7, M8 là do cùng một người ký, viết ra.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Ngày 27/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S triệu tập Nguyễn Văn K, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, K giao nộp:
- - 03 điện thoại di động (02 nhãn hiệu SAMSUNG, 01 nhãn hiệu IPHONE).
- - 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu DELL kèm theo 01 chuột máy tính, 01 sạc pin máy tính.
Vật chứng hiện đã được chuyển đến kho vật chứng của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về phần dân sự: Ngày 17/5/2025, bị cáo Nguyễn Văn K đã trả cho bị hại Cà Văn I 3.000.000đ, số tiền còn lại là 1.367.000.000đ bị cáo chưa hoàn trả.
Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-P3 ngày 15/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo và không khai báo gì thêm.
Ý kiến của các bị hại:
- + Ông Hoàng Văn L: Yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc là 290.000.000đ, lãi suất 0,9%/năm từ năm 2017 đến nay và đề nghị xử phạt theo quy định.
- + Ông Quàng Văn P yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc 90.000.000đ, ông Lò Văn T3 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc 90.000.000đ, ông Quàng Văn H1 (trú tại xã N) yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc 25.000.000đ và đều đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định.
- + Ông Lèo Văn Q: Yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc là 40.000.000đ và đề nghị xử phạt theo quy định.
- + Bà Hoàng Thị B: Yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền gốc là 265.000.000đ và đề nghị xử phạt theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 12 đến 13 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn K đã bồi thường thiệt hại cho ông Cà Văn I 3.000.000đ. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại số tiền là 1.367.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị trả cho bị cáo 02 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Nhất trí về tội danh, điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo còn tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, ngoài ra bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K dưới khung hình phạt để bị cáo sớm trở về với xã hội và đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn K nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Các bị hại không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Văn K là nhân viên quản lý hồ sơ vay vốn của các khách hàng tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M. Do nợ nần, không có khả năng tài chính, để có tiền trả nợ, đánh bạc trên mạng Internet và chi tiêu cá nhân, Nguyễn Văn K đã lợi dụng lòng tin của khách hàng và đưa ra các thông tin gian dối: Vay tiền để mua đất, đảo nợ cho khách, ngân hàng chưa có tiền giải ngân nhằm chiếm đoạt tiền của các khách hàng, cụ thể từ tháng 5/2016 đến tháng 9/2017 chiếm đoạt của 10 bị hại với tổng số tiền là 1.370.000.000đ (Một tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Đơn tố giác tội phạm đề ngày 19/7/2021 của bà Hoàng Thị B về việc bị cáo Nguyễn Văn K có hành vi gian dối trong việc giao tiền vay ngân hàng cho bà B, cụ thể bà B làm giấy tờ vay 400.000.000đ nhưng Nguyễn Văn K chỉ giao cho bà 100.000.000đ, còn lại bị cáo chiếm giữ 300.000.000đ để chi tiêu cá nhân.
- - Đơn tố cáo đề ngày 19/7/2021 của ông Quàng Văn P về việc bị cáo Nguyễn Văn K có hành vi trốn khỏi địa bàn sinh sống, trốn tránh việc trả nợ đối với số tiền 450.000.000đ vay của các bị hại Quàng V, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 (trú tại xã C), mỗi bị hại 90.000.000đ.
- - Đơn tố cáo đề ngày 19/7/2021 của ông Hoàng Văn L về việc bị cáo Nguyễn Văn K vay ông 350.000.000đ nhưng không trả nợ đúng hạn còn trốn tránh.
- - Đơn trình báo đề ngày 09/10/2025 của ông Cà Văn I về việc bị cáo trốn tránh việc trả nợ số tiền 300.000.000đ.
- - Đơn tố giác đề ngày 08/10/2025 của ông Lèo Văn Q về việc bị cáo trốn tránh việc trả nợ số tiền 40.000.000đ.
- - Đơn tố cáo đề ngày 08/10/2025 của ông Quàng Văn H1 (trú tại xã N) về việc bị cáo trốn tránh việc trả nợ số tiền 25.000.000đ.
- - Hồ sơ vay vốn và hồ sơ nhận nợ của bà Hoàng Thị B từ ngày 13/9/2017 đến ngày 13/9/2018.
- - Giấy vay tiền đề ngày 27/9/2017 và cam kết trả nợ ngày 22/5/2018 của bị cáo Nguyễn Văn K.
- - Kết luận giám định số 1428/QĐ-KTHS ngày 28/11/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh S kết luận:
- Chữ ký, chữ viết mang tên “Nguyễn Văn K” dưới mục “Người vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1; dưới mục “Bên vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2; dưới mục “Người cam kết” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3; dưới mục “Người viết cam kết” trên mẫu cần giám định ký hiệu A4 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn K trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên “Hoàng Thị B” dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A5; dưới mục “NGƯỜI VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A6; dưới cột “Người vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A7; dưới mục “NGƯỜI VAY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A8; dưới cột “Chữ ký của khách hàng (nếu có)” trên mẫu cần giám định ký hiệu A9; dưới mục “KHÁCH HÀNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A10 so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị B trên các mẫu so sánh ký hiệu M6, M7, M8 là do cùng một người ký, viết ra.”
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn K đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của các bị hại Hoàng Thị B số tiền 265.000.000đ, Quàng Văn H1 (trú tại xã N) số tiền 25.000.000đ, Cà Văn I số tiền 300.000.000đ, Hoàng Văn L số tiền 290.000.000đ, Lèo Văn Q số tiền 40.000.000đ và các bị hại Quàng Văn Phòng, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 (trú tại xã C) mỗi bị hại số tiền 90.000.0000đ. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 10 bị hại là 1.370.000.0000đ (Một tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng), đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000đ trở lên” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn K đã lợi dụng vị trí công tác là nhân viên quản lý hồ sơ vay vốn của các khách hàng tại Ngân hàng A1 – Chi nhánh M. Bị cáo đã tạo dựng lòng tin đối với các bị hại và đưa ra các thông tin gian dối như: vay tiền để mua đất, đảo nợ cho khách hàng, ngân hàng chưa có tiền giải ngân, nhằm làm cho các bị hại tin tưởng và giao tiền cho bị cáo. Bằng thủ đoạn trên, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 1.370.000.000đ của các bị hại. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh, cho vay tiền của ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Ngày 26/4/2021, UBND phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chống người thi hành công vụ, phạt tiền 4.000.000 đồng (đã thi hành xong).
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn K thực hiện chiếm đoạt của 10 bị hại, nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là Nguyễn Tiến D là người có công được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về bồi thường bị cáo mới bồi thường cho bị hại Cà Văn I số tiền 3.000.000đ, do đó không được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Nguyễn Văn K còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản gì giá trị, không có khả năng thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo và các đối tượng liên quan: Quá trình điều tra Nguyễn Văn K khai nhận sử dụng tiền chiếm đoạt từ các bị hại để mua thẻ cào điện thoại các mệnh giá 500.000đ, 20.000đ nạp vào tài khoản trên mạng tên “Khiem84” và thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên do thời gian đã lâu, K không nhớ tên website, mật khẩu đăng nhập tài khoản trên. Kiểm tra điện thoại K giao nộp không còn dữ liệu liên quan đến hành vi đánh bạc. Do vậy, không đủ căn cứ chứng minh Nguyễn Văn K có hành vi Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với Lê Thị Q1, sinh năm 1985, trú tại tiểu khu E, xã M, tỉnh Sơn La là người cho Nguyễn Văn K chuyển tiền nhờ qua số tài khoản và rút tiền mặt đưa cho K. Quá trình điều tra xác định, Q1 không biết, không cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xác định Q1 đồng phạm với Nguyễn Văn K.
Đối với Nguyễn Chí V1, sinh năm 1960, trú tại tiểu khu E, xã M, tỉnh Sơn La là người Nguyễn Văn K nhờ trả số tiền 50.000.000đ cho Hoàng Văn L, trả 35.000.000đ cho Hoàng Thị B. Quá trình điều tra Nguyễn Văn K khai V1 không biết, không cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với K, khi nhờ V1 trả tiền K chỉ nói là nhờ trả nợ hộ các cá nhân. Ngày 17/4/2024, Nguyễn Chí V1 đã chết. Do vậy, không có cơ sở để làm rõ nội dung trên.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Xác định bị cáo gây thiệt hại cho các bị hại tổng số tiền là 1.370.000.000đ, ngày 17/5/2025 bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Cà Văn I số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 1.367.000.000đ, cụ thể:
- + Hoàng Thị B số tiền 265.000.000đ.
- + Quàng Văn H1 (trú tại xã N) số tiền 25.000.000đ.
- + Cà Văn I số tiền 297.000.000đ.
- + Hoàng Văn L số tiền 290.000.000đ.
- + Lèo Văn Q số tiền 40.000.000đ.
- + Các bị hại Quàng V, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 (trú tại xã C) mỗi bị hại số tiền 90.000.0000đ.
Đối với yêu cầu của bị hại ông Hoàng Văn L về việc bị cáo phải hoàn trả lãi suất 0,9%/năm của số tiền 290.000.000đ từ năm 2017 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận.
[9] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 02 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE; 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu DELL kèm theo 01 chuột máy tính, 01 sạc pin máy tính do bị cáo Nguyễn Văn K tự giao nộp, xét thấy số vật chứng trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579, 584; 585; Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- - Ghi nhận ngày 17/5/2025, bị cáo Nguyễn Văn K đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Cà Văn I số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
- - Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 1.367.000.000đ (một tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng), cụ thể:
- + Hoàng Thị B số tiền 265.000.000đ (hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng).
- + Quàng Văn H1 (trú tại xã N) số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- + Cà Văn I số tiền 297.000.000đ (hai trăm chín mươi bảy triệu đồng).
- + Hoàng Văn L số tiền 290.000.000đ (hai trăm chín mươi triệu đồng).
- + Lèo Văn Q số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
- + Các bị hại Quàng V, Cà Văn T2, Lò Văn T3, Cà Văn Y, Quàng Văn H1 (trú tại xã C) mỗi bị hại số tiền 90.000.0000đ (chín mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trả cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng; 01 (một) máy tính nhãn hiệu DELL màu đen kèm theo 01 (một) chuột không dây nhãn hiệu LOGI và 01 (một) dây sạc máy tính màu đen dài khoảng 02m; đều đã qua sử dụng (Đã niêm phong theo đúng quy định pháp luật).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Sơn La và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 53.010.000đ án phí dân sự có giá ngạch.
Bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/01/2026); các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tòng Thị Hiền |
Bản án số 16/2026/HSST ngày 27/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 16/2026/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
