Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 10-4-2205

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con,

tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong

Các thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình

Bà Lê Kim Đó

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/HNGĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt);

HKTT: Xóm B, thôn X, xã Q, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

Tạm trú: Số 170, Nguyễn Thị T, Ấp F, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H: Luật sư Nguyễn Hùng Phi K – Công ty L thuộc Đoàn luật sư T5 (có mặt);

- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá T1, sinh năm 1973 (vắng mặt);

HKTT: Xóm B, thôn X, xã Q, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

Tạm trú: Tổ 7, Ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết D, sinh năm 1977 (vắng mặt);
  2. Ông Lê Hoàng T2, sinh năm 1969 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Tổ G, Ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/8/2020 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Bá T1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Ứ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 24 tháng 8 năm 2000. Việc kết hôn do bà và ông T1 tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Bà và ông T1 đã sống ly thân từ tháng 10/2020 đến nay. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T1 để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Bà và ông T1 có 03 con chung tên Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 06/4/2001; Nguyễn Thúy H1, sinh ngày 27/6/2006 và Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009.

Theo đơn khởi kiện bà H đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Thúy H1, giao cháu Nguyễn Bá T3 cho ông T1 nuôi dưỡng, tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại cháu H1 đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Nay bà đề nghị được thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như sau: Bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009 và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi cháu T3 2.000.000 đồng/tháng

Đối với cháu Đ và H1 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bà H khai ông T1 có cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng P tại địa chỉ Hẻm F, Tổ G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, ông T1 hiện đang làm công việc gì và thu nhập bình quân mỗi tháng bao nhiêu bà không biết, bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh cửa hàng VLXD Phát Tài là của ông T1. Bà có nghe các con nói ông T1 bị bệnh nan y nhưng bà không rõ ông bị bệnh gì.

- Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống bà và ông T1 có tạo dựng được một phần đất diện tích 199m² và công trình trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 + Mái che và nhà vệ sinh thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nguồn gốc đất và nhà này do ông T1 trực tiếp giao dịch nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà H2, ông N. Giá chuyển nhượng là 1.070.000.000 đồng. Ngày 30/8/2018 ông T1 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh L1 điều chỉnh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất số 360 là do bà và ông T1 chuyển nhượng tài sản chung là nhà đất diện tích 538m² thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 53 xã A, L, Đồng Nai cho ông Phạm Văn C vào ngày 22/5/2018.

Đối với phần đất diện tích 22,5m² thuộc thửa 245b được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 8, 9, 10, 1) theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 4275/2021 ngày 22/4/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 do bà và ông T1 sử dụng lấn chiếm của bà Nguyễn Thị Tuyết D và ông Lê Hoàng T2, bà không tranh chấp phần đất này mà để bà và ông T1 tự thỏa thuận với ông T2, bà D.

Bà đề nghị Tòa căn cứ vào Bản đồ hiện trạng khu đất số 4275/2021 ngày 22/4/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 để giải quyết vụ án.

Bà không đồng ý với Chứng thư thẩm định giá số 1098/CT- THM ngày 17/12/2021 của Công ty Cổ phần T6 Mới và Chứng thư thẩm định giá số 436/2024/688/CT-SV ngày 12/8/2024 của Công ty Cổ phần T7 vì giá thẩm định quá cao. Theo bà H cho rằng hiện tài sản bà tranh chấp gồm: Quyền sử dụng đất thuộc thửa 360, tờ bản đồ 68 xã A, L và toàn bộ công trình trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 + Mái che và nhà vệ sinh có diện tích 150,1m² có tổng giá trị là 1.100.000.000 đồng và bà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào giá do bà đưa ra để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Nay bà H yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc thửa 360 tờ bản đồ 68 xã A, L và toàn bộ công trình trên đất gồm: Nhà ở gia đình có diện tích 61,2m² + Mái che có diện tích 84,2 m² và nhà vệ sinh có diện tích 4,7m². Bà yêu cầu được chia ½ số tài sản trên và yêu cầu được quản lý sử dụng toàn bộ tài sản, thanh toán cho ông T1 ½ giá trị là 550.000.000 đồng.

- Về nợ chung: Bà H khai giữa bà và ông T1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên tòa ông T1 rút toàn bộ yêu cầu phản tố, bà không có ý kiến gì.

Hiện trên nhà đất tranh chấp chỉ có ông T1 sinh sống. Hiện trạng đất kể từ khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc đến nay vẫn giữ nguyên, không có gì thay đổi. Bà không yêu cầu Tòa án tiến hành đối chất bất cứ nội dung gì với những người tham gia tố tụng trong vụ án vì nội dung vụ án đã rõ.

Theo đơn phản tố ngày 08/01/2021 và các lời khai tại hồ sơ, bị đơn ông Nguyễn Bá T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thời gian kết hôn như bà H trình bày là đúng. Quá trình chung sống không hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã và đã sống ly thân từ giữa năm 2017 đến nay, bà H khai vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 là không chính xác. Nay bà Nguyễn Thị H xin ly hôn, ông đồng ý vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ được.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 06/4/2001; Nguyễn Thúy H1, sinh ngày 27/6/2006 và Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009.

Ông T1 đồng ý giao cháu Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H nuôi con yêu cầu ông T1 cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng, tại phiên tòa ông T1 đồng ý.

Cách đây khoảng 02 năm ông có mở cửa hàng vật liệu xây dựng tại hẻm F, Tổ G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, mặt bằng thuê lại giá 2.000.000 đồng/tháng, khi thuê không làm giấy tờ thuê và không đăng ký kinh doanh, ông tự mua vật liệu về bán nhưng hiện ông đang bị bệnh nan y nên không đủ sức khỏe để làm việc, hàng tháng phải hóa trị hóa trị 02 lần tại bệnh viện Đ1 nên cửa hàng thường xuyên đóng cửa và đang tìm người để sang lại mặt bằng, chỉ còn lại một ít xi măng cũ ai đến hỏi mua thì bán.

Đối với cháu Nguyễn Thúy H1 và Nguyễn Bá Đ hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông T1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông T1 khai giữa ông và bà H không có tài sản chung. Ông T1 xác định diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản riêng của ông. Nguồn gốc đất là do ông trực tiếp giao dịch nhận chuyển nhượng từ ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 vào ngày 21/8/2018, giá chuyển nhượng là 1.070.000.000 đồng và ông đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh L1 điều chỉnh sang tên vào ngày 30/8/2018 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 288741 ngày 03/5/2018 do ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 đứng tên.

Tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất số 360 là do vào ngày 22/5/2018 ông và bà H đã chuyển nhượng tài sản chung là nhà và đất diện tích 538m² thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 53 xã A, L, Đồng Nai cho ông Phạm Văn C với giá 5.000.000.000 đồng, đã dùng trả nợ Ngân hàng V hết 500.000.000 đồng. Số tiền còn lại ông và bà H thỏa thuận chia ra mỗi người 2.250.000.000đ. Ngoài ra, ông còn chia cho bà H tiền bán xe ô tô KIA 40.000.000 đồng và trả lại cho bà H số tiền 60.000.000 đồng (là tiền trước đây do 02 vợ chồng bỏ ra 120.000.000 để sửa lại căn nhà tại Ứ, Hà Nội). Sau khi chia xong, ông và bà H đều gửi tiết kiệm tại Ngân hàng N1- Chi nhánh N2, bà H gửi 2.260.000.000 đồng, còn ông 2.140.000.000 đồng, mỗi người đứng tên một sổ. Kể từ khi bán đất cho ông C và chia tiền, thì giữa ông và bà H không còn tài sản chung nữa, số tiền gửi tiết kiệm ông đã rút ra để mua thửa đất số 360 như nêu trên. Khi ông giao dịch nhận chuyển nhượng thửa đất số 360 đều không có mặt bà H và bà H cũng không có ý kiến gì, vì thời điểm đó ông và bà H đã chia tài sản chung xong và cũng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai.

Bà H yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 360 tờ bản đồ 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất gồm: Nhà ở gia đình có diện tích 61,2m² + Mái che có diện tích 84,2 m² và nhà vệ sinh có diện tích 4,7m². Bà yêu cầu được quản lý sử dụng toàn bộ tài sản nêu trên và sẽ thanh toán cho ông T1 ½ giá trị là 550.000.000 đồng, ông T1 không đồng ý.

Tại phiên tòa, ông T1 rút toàn bộ yêu cầu phản tố đối với yêu cầu bà H trả lại số tiền là 500.000.000 đồng và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và toàn bộ công trình trên đất thuộc thửa đất số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản riêng của ông.

Hiện trên nhà đất tranh chấp chỉ có ông T1 sinh sống. Hiện trạng đất kể từ khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc đến nay vẫn giữ nguyên, không có gì thay đổi. Ông T1 không yêu cầu Tòa án tiến hành đối chất bất cứ nội dung gì với những người tham gia tố tụng trong vụ án vì nội dung vụ án đã rõ.

Ông T1 đề nghị căn cứ vào Chứng thư thẩm định giá số 436/2024/688/CT-SV ngày 12/8/2024 của Công ty Cổ phần T7 để làm cơ sở giải quyết vụ án.

- Về nợ chung: Ông T1 khai giữa ông và bà H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa xem xét.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết D và ông Lê Hoàng T2 trình bày tại bản tự khai ngày 5/4/2024 và biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024:

Ông T2, bà D không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với yêu cầu xin ly hôn, chia tài sản chung là diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà H và yêu cầu phản tố của ông T1 về việc yêu cầu bà H trả số tiền là 500.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu công nhận diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A là tài sản riêng.

Riêng phần diện tích đất 22,5 m² thuộc 01 phần thửa số 245, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 4275/2021 ngày 22/4/2021 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh L1 thực hiện thể hiện ông T1 sử dụng lấn chiếm đất của bà D và ông T2 thì bà D và ông T2 sẽ không làm đơn yêu cầu độc lập, không tranh chấp hay yêu cầu bất cứ vấn đề gì đối với ông T1 bà H mà ông bà sẽ tự thỏa thuận với ông T1 bà H, nếu không thỏa thuận được thì vợ chồng ông bà sẽ khởi kiện ông T1, bà H bằng một vụ án khác.

Ông T2, bà D đề nghị được giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Tuyết H2 và ông Phan Văn N trình bày tại Bản tự khai ngày 11/7/2024:

Ông N, bà H2 không có mối quan hệ gì với ông Nguyễn Bá T1 và Bà Nguyễn Thị H trước đó. Năm 2018, do có nhu cầu bán đất nên ông T1 thông qua người giới thiệu để liên hệ nhận chuyển nhượng đất diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của ông, bà.

Ngày 07/8/20218, tại căn tin Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, Đồng Nai ông T1 tiến hành đặt cọc và có mặt bà Lê Thị T4, địa chỉ: Ấp C, xã A làm chứng và có ký tên vào biên nhận đặt cọc.

Ngày 21/8/2018, tại Ủy ban nhân dân xã A vợ chồng ông N, bà H2 và ông T1 tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng được UBND xã A chứng thực và ông T1 đã thanh toán xong tiền nhận chuyển nhượng. Ngày 30/8/2018 ông T1 đã được điều chỉnh đứng tên thửa đất nêu trên.

Ông N, bà H2 xác định chỉ trực tiếp giao dịch chuyển nhượng với ông T1, tại thời điểm đặt cọc và ký hợp đồng chuyển nhượng đều không có ai tên Nguyễn Thị H nên vợ chồng ông không biết bà H là ai.

Nay bà Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Bá T1 và yêu cầu chia tài sản chung đối với diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, và ông T1 có đơn phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A là tài sản riêng, đồng thời ông T1 yêu cầu bà H trả số tiền 500.000.000 đồng, ông N bà H2 không có ý kiến, không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này vì phần đất nêu trên ông bà đã chuyển nhượng và bàn giao nhà đất cho ông T1 vào năm 2018, hiện không còn liên quan gì.

Ông N, bà H2 đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt theo quy định pháp luật.

Người làm chứng bà Lê Thị T4 trình bày tại Bản tự khai ngày 11/7/2024:

Khoảng vào tháng 7/2018 bà T4 có giới thiệu cho ông T1 nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị Tuyết H2 và ông Phan Văn N đối với diện tích đất 199 m² thuộc thửa số 360, tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, ông T1 trực tiếp thỏa thuận giá và thanh toán tiền cho ông N bà H2. Vào ngày 07/8/2018, tại ủy ban nhân dân xã L bà có chứng kiến ông T1 thanh toán tiền cọc cho ông N, bà H2 và bà có ký tên vào giấy đặt cọc. Tại thời điểm giao tiền cọc ông T1 chỉ đi một mình.

Ngày 21/8/2018, ông T1 và vợ chồng ông N bà H2 đến ủy ban nhân dân xã A để ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán hết số tiền còn lại (bà không nhớ số tiền bao nhiêu), bà có đi cùng nhưng không vào trong chứng kiến việc các bên ký hợp đồng và giao tiền mà chỉ ngồi bên ngoài. Bà T4 xác định ngày 21/8/2018 tại UBND xã A ông T1 không đi cùng người tên H. Ngoài ra, bà T4 không chứng kiến gì khác.

Bà T4 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định pháp luật.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị R trình bày tại Bản tự khai ngày 11/7/2024:

Bà kinh doanh phòng trọ, bà quen biết ông Nguyễn Bá T1 thông qua việc ông T1 thuê phòng trọ. Bà R xác định chỉ có ông T1 cùng 02 con trai và mẹ ruột của ông T1 thuê và ở tại phòng trọ của bà tại Ấp E, xã A, do thời gian đã khá lâu nên bà không còn nhớ rõ họ tên cụ thể của 02 con trai và mẹ ông T1. Thời điểm đó bà có hỏi ông T1 về vợ của ông nhưng ông T1 nói hiện vợ chồng ông đang sống ly thân nên không còn chung sống.

Ngoài ra, bà R không chứng kiến việc gì khác.

Bà R đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt theo quy định pháp luật.

Người làm chứng ông Phạm Văn C trình bày tại Bản tự khai ngày 05/11/2021:

Vào ngày 22/5/2018, ông ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T1, bà H đối với thửa đất thửa số 33, tờ bản đồ số 53 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, giá chuyển nhượng là 05 tỷ đồng, ông đã thanh toán đủ tiền cho ông T1 bà H tại Ngân hàng N1 ở L, tại thời điểm đó ông có nghe ông T1 bà H bàn bạc chia nhau số tiền và có yêu cầu ông chuyển toàn bộ 05 tỷ đồng cho nhân viên Ngân hàng để gửi tiết kiệm. Ngoài ra, ông C không chứng kiến gì khác.

Ông C đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt theo quy định pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành:

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà H với ông T1.
  2. Công nhận sự thỏa thuận về việc giao con chung là cháu Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  3. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T1 không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm cấp dưỡng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng.

    Ông T1 được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  4. Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà H đối với thửa đất 360, tờ bản đồ 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất gồm: Nhà ở gia đình có diện tích 61,2m² + Mái che có diện tích 84,2 m² và nhà vệ sinh có diện tích 4,7m².
  5. Về nợ chung: Không xem xét.

  6. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông T1 đối với yêu cầu bà H trả 500.000.000 đồng và yêu cầu công nhận thửa đất 360, tờ bản đồ 68 xã A, L, Đồng Nai là tài sản riêng của ông T1.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/9/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận tài sản nhà, đất tại thửa đất số 360, tờ bản đồ 68 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chấp nhận việc chia ½ tài sản theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phúc thẩm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục kháng cáo:

Ngày 05/9/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã nhận đơn kháng cáo của bà H. Bà H đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 BLTTDS thì kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị sửa bán án sơ thẩm theo hướng công nhận tài sản nhà, đất tại thửa số 360, TBĐ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chấp nhận việc chia ½ tài sản theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung kháng cáo nhận thấy:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị sửa bán án sơ thẩm theo hướng công nhận tài sản nhà, đất tại thửa số 360, TBĐ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chấp nhận việc chia ½ tài sản theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ vụ án thể hiện thửa đất số 360 tờ bản đồ 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất là do ông Nguyễn Bá T1 trực tiếp giao dịch nhận chuyển nhượng từ ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 vào năm 2018, tại thời điểm nhận chuyển nhượng ông T1 và bà H không còn chung sống với nhau, khi ông T1 được điều chỉnh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên bà H cũng không có ý kiến gì.

Bà H thừa nhận sau khi chuyển nhượng đất cho ông Phạm Văn C được 5.000.000.000 đồng, trừ đi các chi phí, các khoản nợ chung thì giữa bà và ông T1 đã chia nhau số tiền còn lại, mỗi người tự gửi tiết kiệm và tự quản lý sử dụng, phần tiền được chia. Việc ông T1 sử dụng tiền vào việc gì bà đều không quan tâm, việc chia tiền và gửi tiết kiệm này được thể hiện tại Công văn phúc đáp số 1299/NHNoNĐN- KTNQ.m ngày 30/6/2023 của Ngân hàng N1- Chi nhánh N2 với nội dung vào ngày 22/5/2018 bà H có gửi tiết kiệm số tiền 2.260.000.000 đồng, quá trình gửi bà H đã rút tiền nhiều lần và rút hết số tiền gốc và lãi vào ngày 13/6/2019. Tại thời điểm ông T1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông N, bà H2 mặc dù ông T1, bà H chưa ly hôn nhưng đã sống ly thân và đã thực hiện việc chia tài sản chung với nhau; số tiền ông T1 nhận chuyển nhượng đất thửa số 360, tờ đồ 68 xã A là tiền ông T1 được chia sau khi chuyển nhượng đất cho ông C. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 360 tờ bản đồ số 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất là tài sản riêng của ông T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 40, 43 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Việc bà H khai thửa đất số 360 tờ bản đồ 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất là tài sản chung của bà và ông T1 trong thời kỳ hôn nhân, tiền để nhận chuyển nhượng đất này là do bà rút ra từ sổ tiết kiệm do bà đứng tên tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh N2 nhưng bà H không có chứng cứ gì chứng minh, lời khai của bà cũng không phù hợp với lời khai người làm chứng và không được ông T1 thừa nhận.

Do đó, kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

Áp dụng khoản 1, điều 308 BLTTDS. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 23/8/2024 của TAND huyện Long Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà H được nộp trong hạn luật định, bà H đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Bà Nguyễn Thị H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về nội dung công nhận nhà và đất tại thửa đất số 360, tờ bản đồ 68 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản riêng của ông T1.

Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự tại cấp sơ thẩm đã đủ cơ sở để xác định nhà và đất tại thửa đất số 360, tờ bản đồ 68, diện tích 199m² tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc từ việc ông Nguyễn Bá T1 trực tiếp nhận chuyển nhượng từ ông ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 vào năm 2018. Nguồn tiền nhận chuyển nhượng do ông T1 rút từ sổ tiết kiệm gửi Ngân hàng N1- Chi nhánh N2.

Sau chuyển nhượng đất cho ông Phạm Văn C được 5.000.000.000 đồng, trừ đi các chi phí, các khoản nợ chung thì giữa bà H và ông T1 đã chia nhau số tiền còn lại, mỗi người tự gửi tiết kiệm và tự quản lý sử dụng nên cấp sơ thẩm xác định ông bà đã tự phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân là có căn cứ. Ngoài ra, bà H đã tự mình rút toàn bộ số tiền tại sổ tiết kiệm sau khi chuyển nhượng đất của ông C (bút lục 228), bà H không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc bà dùng số tiền rút ra từ sổ tiết kiệm này để cùng với ông T1 nhận chuyển nhượng nhà và đất tại thửa đất số 360, tờ bản đồ 68, diện tích 199m² tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Bên cạnh đó, lời khai của ông ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 (là người bán đất cho ông T1) và bà Lê Thị T4 (là môi giới) đều đã xác định thời điểm chuyển nhượng tài sản tranh chấp, ông bà cũng chỉ làm việc và nhận tiền từ ông Nguyễn Bá T1, không biết bà H là ai.

Do vậy, cấp sơ thẩm xác định nhà và đất tại thửa đất số 360, tờ bản đồ 68, diện tích 199m² tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản riêng của ông Nguyễn Bá T1 là có cơ sở. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

[4] Về án phí:

- Cấp sơ thẩm tuyên Bà H phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 44.864.000 đồng án phí đối với phần tranh chấp không được chấp nhận và ông T1 phải chịu 225.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con là chưa phù hợp với quy định tại Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy cần phải sửa về phần án phí liên quan đến nội dung này, cụ thể:

Bà H phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và không phải chịu án phí chia tài sản chung.

Ông T1 phải chịu 375.000đ (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà H không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H; sửa Bản án sơ thẩm số số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về án phí và cách tuyên.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986; Điều 55, 59, 81, 82, 83, 110 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Bá T1 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  2. - Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Bá T1.

    - Giao con chung là cháu Nguyễn Bá T3, sinh ngày 13/12/2009 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T1 không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm cấp dưỡng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng.

    Ông T1 được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà H đối với thửa đất 360, tờ bản đồ 68 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ công trình trên đất gồm: Nhà ở gia đình có diện tích 61,2m² + Mái che có diện tích 84,2 m² và nhà vệ sinh có diện tích 4,7m².
  4. Về nợ chung: Không xem xét.

  5. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông T1 đối với yêu cầu bà H trả 500.000.000 đồng và yêu cầu công nhận thửa đất 360, tờ bản đồ 68 xã A, L, Đồng Nai là tài sản riêng của ông T1.
  6. Về án phí:
  7. Bà H phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 7.500.000 đồng theo biên lai thu số 0004648 ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016328 ngày 02 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Hoàn trả cho bà H số tiền 7.725.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

    Ông T1 phải chịu 375.000đ (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố đã nộp là 12.300.000 đồng theo biên lai thu số 0005358 ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Hoàn trả lại ông T1 số tiền 11.925.000 đồng (Mười một triệu chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

    Bà H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.

  8. Về chi phí tố tụng: Bà H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 26.615.500 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng), bà H đã nộp xong.
  9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Long Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Phong

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT ngày 10/04/2205 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn

  • Số bản án: 16/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2205
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn và chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà đất. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn nhưng không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của vợ chồng. Nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia tài sản chung cảu vợ chồng. Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger