Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH


Bản án số: 157/2026/DS-PT
Ngày: 30-01-2026
V/v tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục

Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân, ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 796/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1030/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983; địa chỉ: Số B Hẻm S, đường L, Tổ A, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số B Hẻm S, đường L, Tổ A, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
  • Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp R, xã T, tỉnh Tây Ninh, địa chỉ cũ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thúy H: ông Nguyễn Hòa B, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Hòa B, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1966; địa chỉ: Số G ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số G ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
    2. Ông Võ Phước T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp R, xã T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
    3. Ông Trần Hữu B1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số B Hẻm S, đường L, Tổ A, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cũ: Số B Hẻm S, đường L, Tổ A, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
  • Người kháng cáo: bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 08/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà là chị ruột của bà Nguyễn Thị Thúy H. Bà Lê Thị H1 là mẹ ruột của bà và bà H. Do đi làm ăn xa, vào khoảng giữa năm 2019 bà có giao cho bà H giữ hộ số vàng trọng lượng 5,7 cây (lượng) loại vàng SJC, gồm: 05 miếng loại 01 lượng/miếng, 02 miếng loại 02 chỉ/miếng và 03 miếng loại 01 chỉ/miếng. Đây là tài sản riêng của bà có trước khi kết hôn với ông Trần Hữu B1. Đến tháng 5/2024, bà đã nhận lại 06 chỉ vàng SJC. Việc giao vàng chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập giấy biên nhận do tin tưởng chị em ruột; chồng bà H là ông Võ Phước T biết việc này. Trước đó, bà nhiều lần gửi vàng cho bà H giữ và đều lấy lại khi cần, nên rất tin tưởng vợ chồng bà H.

Đến tháng 3/2025, do chồng bà bệnh, bà điện thoại yêu cầu bà H gửi lại số vàng để chữa bệnh. Ngày 14/3/2025, bà H nhờ bà H1 mang lên cho bà 18.000.000 đồng. Ngày 27/3/2025, khi chồng bà tái khám, bà tiếp tục yêu cầu nhận lại toàn bộ số vàng đã gửi 5,1 cây vàng SJC thì bà H trả lời là đã làm mất và không giao trả. Các cuộc gọi trao đổi giữa bà và bà H đều được bà ghi âm làm chứng cứ. Bà xác định không giao vàng cho bà H1 giữ.

Nay bà khởi kiện yêu cầu buộc bà H trả lại 5,1 cây (lượng) vàng SJC, đồng thời đồng ý hoàn trả 18.000.000 đồng đã nhận trước đó; ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm như sau:

Bà thừa nhận có giữ hộ chị ruột là bà P số vàng 5,7 cây vàng SJC. Đến khoảng tháng 10/2023, bà đã giao lại 5,1 cây vàng cho bà H1 để bà H1 giữ hộ bà P. Việc giao vàng này có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Kim L. Khi giao vàng, bà có nhờ mẹ điện thoại thông báo cho bà P biết và bà H1 cũng đã điện thoại xác nhận với bà P việc giữ vàng. Kể từ thời điểm giao vàng cho bà H1, bà không còn trách nhiệm đối với số vàng này.

Đến khoảng tháng 4/2025, bà P điện thoại cho bà H1 để lấy 02 chỉ vàng trong số 5,1 cây vàng nêu trên thì không tìm thấy vàng. Khi biết vàng bị thất lạc, bà P có điện thoại nhờ bà mượn giúp 02 chỉ vàng đưa cho bà H1 mang lên Tây Ninh giao cho bà P. Bà cho rằng nếu bà P không biết việc bà đã giao lại vàng cho bà H1, thì trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 4/2025 bà P đã có phản ứng khác, trong khi thực tế bà P còn trực tiếp điện thoại cho bà H1 để lấy 02 chỉ vàng trong số vàng đã giao.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H trình bày không nhớ chính xác thời gian giữ hộ vàng cho bà P, hơn nữa, mặc dù biết số vàng là của bà P nhưng bà không nhận vàng trực tiếp từ bà P, mà nhận vàng từ bà H1 giao. Bà chỉ giữ vàng vài tháng, đến tháng 10/2023 đã giao lại 5,1 cây vàng cho bà H1. Đối với số tiền 18.000.000 đồng, bà trình bày đây là tiền do bà H1 nhờ hỏi mượn từ bà L, không phải tiền của bà nên không đồng ý nhận lại theo yêu cầu của bà P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Lê Thị H1 trình bày: bà xác nhận bà H có giữ hộ cho bà P 5,1 cây vàng SJC; đến khoảng tháng 10/2023, bà H giao lại số vàng này cho bà giữ hộ cho bà P. Bà đã điện thoại thông báo cho bà P biết và bà P đồng ý cho bà giữ hộ. Đến khoảng tháng 4/2025, bà P điện thoại yêu cầu bà lấy 02 chỉ vàng trong số 5,1 cây vàng để trị bệnh cho chồng; tuy nhiên, khi tìm thì không thấy vàng. Khi chưa tìm được vàng, bà P có nhờ bà H mượn 02 chỉ vàng giao cho bà mang lên Tây Ninh. Hiện nay, bà đồng ý trả lại 5,1 cây vàng cho bà P và xác định không liên quan đến trách nhiệm của bà H.

Ông Võ Phước T trình bày: ông là chồng của bà H. Ông không biết việc các bên giao, gửi vàng cụ thể như thế nào; đến khoảng tháng 3/2025, khi bà P gọi điện yêu cầu bà H trả 5,1 cây vàng thì ông mới biết sự việc. Ông không đồng ý với yêu cầu buộc bà H trả vàng vì cho rằng bà H không còn giữ số vàng này.

Ông Trần Hữu B1 trình bày: số vàng 5,7 cây SJC là tài sản riêng của bà P; ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã xử (tóm tắt):

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị Thúy H trả cho bà Nguyễn Thị P 5,1 cây (lượng) vàng SJC, loại vàng miếng (05 miếng loại 01 lượng và 01 miếng loại 01 chỉ).
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu là 30.907.600đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị P 13.220.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ngày 16/9/2025, bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: ông Trần Hữu B1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

[4] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: giao dịch đang có tranh chấp được xác lập vào năm 2019. Do đó, cần căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật có liên quan.

[7] Việc bà H cho rằng, bà không trực tiếp nhận vàng từ bà P mà bà nhận vàng trực tiếp từ bà H1, là hoàn toàn mâu thuẫn với chính lời khai của bà H tại Bản tự khai ngày 06/6/2025. Hơn nữa, giữa lời trình bày của bà H và bà H1 có sự mâu thuẫn với nhau và không nhất quán về thời điểm nhận giữ vàng.

[8] Bà H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà P vì cho rằng, sau đó bà đã giao lại vàng cho bà H1 giữ nên không còn trách nhiệm. Tuy nhiên, cả bà H và bà H1 đều không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà P đã đồng ý sự thay đổi người nhận giữ tài sản từ bà H thành bà H1.

[10] Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy việc buộc bà Nguyễn Thị Thúy H trả cho bà Nguyễn Thị P 5,1 cây vàng SJC là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 557 và Điều 559 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
  2. Không chấp nhận kháng cáo bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H.
  3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: buộc bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000đ, nhưng khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp.
  5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 9-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 9-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản

  • Số bản án: 157/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” Nguyễn Thị Thúy H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger