Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2025/HS-PT

Ngày 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN


Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Thẩm phán: Ông Vi Văn Chắt và ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 156/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên Hoàng Đình T; Tên gọi khác: không Sinh ngày 02/09/1990 tại tỉnh Nghệ An; Trú tại: Xóm L (T), xã K, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động dự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Hoàng Lâm B và bà Nguyễn Thị T1; vợ Võ Thị N (sinh năm 1989) và có 04 con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đã chấp hành án từ ngày 06/11/2024 đến ngày 20/06/2025 thì được tạm đình chỉ thi hành án (ngày 20/06/2025 Trại giam số 6 Bộ C1 bàn giao cho gia đình). Tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm L (T), xã K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Chị Hoàng Lệ Tú V, sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn V, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
  2. Chị Trịnh Thị T3, sinh năm 1995; Nơi cư trú: thôn A xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 28/4/2023, Hoàng Đình T đi đám cưới tại nhà ông Hoàng Văn C tại xóm L, xã T, huyện T cũ, nay là xã K, tỉnh Nghệ An. Khi T đang uống rượu cùng với ông C thì có anh Hoàng Đình T4 và anh Trần Văn T2 (cùng xóm) cùng với bạn là Trịnh Thị T3, chị Hoàng Lệ Tú V cũng đến dự đám cưới. Khi vào đám cưới thì anh T2, chị T3 và chị V ngồi bàn đối diện với bàn T đang ngồi, còn một số người quen đi sang bàn anh T2 chúc rượu. Do có mâu thuẫn từ trước với anh T2 cho nên T đi sang bàn chỗ anh T2 ngồi. T dùng tay trái cầm cổ áo anh T2 và dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào lông mày trái của anh T2, tiếp đó T dùng tay phải đấm liên tục nhiều cái trúng vào mặt anh T2 làm anh T2 ngã xuống sân. Mặc dù có người can ngăn nhưng T vẫn tiếp tục cầm 01 chiếc ghế định đánh vào anh T2 nhưng được mọi người can ngăn nên T đi bộ ra đường và trở về nhà mình, còn anh T2 được mọi người đưa đi cấp cứa tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N điều trị đến ngày 08/5/2023 thì ra viện.

Theo Kết luận giám định số 288/KLTTCT-TTPYNA, ngày 22/5/2023 của Trung tâm pháp y sở Y kết luận: “ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019, của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T2 tại thời điểm giám định là 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.

Ngày 06/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cũ, tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 132/CSĐT trưng cầu với nội dung xác định vật gây thương tích và cơ chế hình thành dấu vết đối với anh Trần Văn T2. Tại bản kết luận giám định số 331//KLTTCT-TTPYNA, ngày 07/6/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: “Một sẹo vết thương phần mềm đầu trong cung lông mày bên trái, bờ mép không đều là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trước ra sau.

- Một vết thương phần mềm gò má bên phải là do vật tày có cạnh tác động nên, có chiều hướng từ trước ra sau.

- Sưng nề thâm nhạt màu dọc sống mũi, gãy xương chính mũi là do vật tày tác động nên, có chiều hướng từ trước ra sau.

- Với tư thế, chiều hướng đánh, đặc điểm, con người của Hoàng Đình T và Trần Văn T2 thì có thể tạo nên thương tích của Trần Văn T2 hay không. Chúng tôi không xác định được”.

Bị hại anh T2 cho rằng: ngoài Thêm thì còn có một người khác tham gia đánh anh T2 nhưng không rõ danh tính; bị cáo dùng hung khí nguy hiểm (là chén thủy tinh uống rượu) để tấn công, hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ vì trước đó không có mâu thuẫn, hành hung ngay giữa nơi đông người. Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 67.356.106 đồng và 01 khoản tiền tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật đồng thời thừa nhận đã nhận số tiền bồi thường 5.000.000 đồng do bị cáo nộp năm 2023.

Tại Bản Cáo trạng số 89/CT-VKS-TC ngày 20/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương cũ, đã truy tố Hoàng Đình T, về tội “ Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 24/11/2023, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử và ban hành Bản án số 91/2023/HSST, tuyên bố Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và quyết định tuyên phạt Hoàng Đình T, 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và buộc Hoàng Đình T có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Văn T2, số tiền: 35.636.106 đồng.

Ngày 06/12/2023 bị hại kháng cáo. Ngày 12/09/2024, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm; tại phiên toà bị hại bổ sung thêm nội dung kháng cáo đó là không cho Hoàng Đình T được hưởng án treo và đề nghị phạt tù giam đối với T. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành bản án phúc thẩm số 95/2024/HS-PT, ngày 12/09/2024, quyết định xử sửa bán sơ thẩm và tuyên phạt Hoàng Đình T, 12 tháng tù; buộc T bồi thường cho anh T2 số tiền: 60.796.176 đồng.

Ngày 12/06/2025 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đã ban hành 02 Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm, số 10/QĐ-VC1-HS và Quyết định số 11/QĐ-VC1-HS. Tại Quyết định số: 141/2025/HS-GĐT ngày 25/06/2025, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tuyên huỷ Bản án hình sự phúc thẩm số 95/2024/HSPT ngày 12/09/2024 và Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự. Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo: Hoàng Đình T, 12 (mười hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian đã chấp hành án từ ngày 06/11/2024 đến ngày 20/06/2025; thời hạn tù còn lại tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Đình T, có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại là anh Trần Văn T2, toàn bộ các chi phí điều trị do bị thiệt hại sức khoẻ, là: 60.796.176 đồng. Bị cáo được trừ đi số tiền đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả và người bị hại đã nhận số tiền 5.000.000 đồng, cho nên khấu trừ số tiền này cho bị cáo và buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu: 55.796.176 đồng.

Về vật chứng: Không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu: 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.789.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử về lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 22/9/2025 bị cáo nộp đơn kháng cáo với nội dung: xin được hưởng án treo và giảm mức bồi thường thiệt hại về dân sự; bổ sung Biên lai thu tiền khắc phục hậu quả (bồi thường dân sự) 25.000.000 đồng ngày 13/11/2025 cho anh T2.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút nội dung kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và bổ sung nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo cảm thấy hết sức ăn năn hối hận về hành vi của mình, đã nhiều lần hối lỗi với anh T2 nhưng không được chấp nhận. Do anh T2 không hợp tác nên bị cáo đã phải nộp tiền bồi thường tại Cơ quan thi hành án dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 07 tháng 14 ngày tù; sửa thêm phần bồi thường dân sự theo hướng khấu trừ số tiền 25.000.000 đồng bồi thường ngày 13/11/2025 vào tổng số tiền bồi thường thiệt hại cho bị cáo; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị hại anh Trần Văn T2 không đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo vì lý do: bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ; Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án cấp cao tại Hà Nội đã nhận định việc cho bị cáo hưởng án treo là không tương xứng với hành vi phạm tội; bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm (chén thủy tinh uống rượu) để gây thương tích; sau khi xét xử lần đầu cho đến nay mới bồi thường thêm 25.000.000 đồng.

Người làm chứng chị Hoàng Lệ Tú V giữ nguyên lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm và quá trình điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo về phần bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử nội dung kháng cáo này của bị cáo. Bị cáo bổ sung nội dung xin giảm nhẹ hình phạt là thuộc quy định tại khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội.

[2.2]. Đối với ý kiến của bị hại cho rằng bị cáo dùng chén thủy tinh gây thương tích là dùng hung khí nguy hiểm. Hội đồng xét xử thấy: theo lời khai của người làm chứng phía bị hại (chị Tú V) thì chị V cũng không khẳng định được việc T có dùng chén thủy tinh khi gây thương tích cho anh T2 hay không; thực nghiệm điều tra và kết quả giám định kỹ thuật hình sự không kết luận được việc dùng hung khí; hiện trường vụ án đã được dọn dẹp trước khi cơ quan điều tra khám nghiệm nên không thu giữ hung khí nào được suy đoán là sử dụng vào mục đích phạm tội. Hơn nữa, anh T2 cho rằng hung khí là chén thủy tinh uống rượu (là loại chén có dung tích khoảng 30ml, cao khoảng 4cm, đường kính miệng khoảng 3cm được sử dụng phổ biến trong các bữa tiệc gia đình và quán ăn B1) nhưng theo tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP, bản thân chiếc chén đó không đủ điều kiện trở thành hung khí, đe dọa gây ra nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe trừ khi bị người sử dụng đập vỡ tạo thành các mảnh thủy tinh sắc nhọn và dùng các mảnh thủy tinh sắc nhọn đó với mục đích tấn công người khác. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị hại, bị cáo và những người làm chứng đều thừa nhận không có sự việc bị cáo đập vỡ chén thủy tinh trước khi đấm anh T2. Hơn nữa theo kết quả giám định pháp y thì các vết thương của anh T2 là “do vật tày có cạnh tác động gây nên” mà không do vật sắc nhọn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận quan điểm này của bị hại là đúng.

[2.3]. Đối với ý kiến của bị hại cho rằng bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ. Hội đồng xét xử thấy: phạm tội có tính chất côn đồ theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là trường hợp “người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, thường xuyên gây rối an ninh trật tự, sẵn sàng dùng vũ lực, có hành vi hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách vô cớ hoặc do bộc phát hoặc vì lý do nhỏ nhặt sẵn sàng dùng vũ lực hoặc thường xuyên thực hiện hành vi uy hiếp người khác phải khuất phục mình”. Tuy nhiên, bị cáo và bị hại đã có hiềm khích trên mạng xã hội trước khi xảy ra sự việc phạm tội (thể hiện trong tin nhắn giữa bị hại với bạn của bị cáo) nên cần xác định hai bên xảy ra mâu thuẫn từ trước, không phải bột phát hay vô cớ nên Tòa án cấp sơ thẩm kết luận hành vi của bị cáo “không có tính chất côn đồ” là đúng và phù hợp với mục [1] của phần “Nhận định của Tòa án” tại Quyết định giám đốc thẩm số 141/2025/HS-GĐT ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có cơ sở kết luận: vào khoảng 22 giờ, ngày 28/4/2023, tại nhà ông Hoàng Văn C, thuộc xóm L, xã T, huyện T cũ (nay là xã K), tỉnh Nghệ An, do có mâu thuẫn trước với nhau, Hoàng Đình T đã có hành vi dùng tay phải đấm nhiều lần vào mặt, dùng chân phải đá 01 cái vào mặt anh Trần Văn T2 khiến anh T2 bị ngã xuống sân bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 13%. Như vậy, Bản án Hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Nghệ An kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo về phần hình phạt thấy rằng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại (5.000.000 đồng) và bố mẹ là người được tặng Bằng khen nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 01 năm tù là đúng pháp luật và phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội.

Căn cứ vào nhận định tại Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án cấp cao tại Hà Nội thì việc cho bị cáo hưởng án treo là không nghiêm khắc và chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Tuy nhiên, trước phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm số tiền 25.000.000 đồng cho anh T2. Xét đây là yếu tố mới, bổ sung thêm vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét áp dụng cho bị cáo. Bị cáo hoàn cảnh khó khăn, nuôi 04 con nhỏ; sau thời gian chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, bị cáo đã có bài học kinh nghiệm sâu sắc, không vi phạm pháp luật nào khác và đã thật sự ăn năn hối cải, biết tìm cách sửa chữa sai lầm nên việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thêm một thời gian nữa là không cần thiết. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giảm hình phạt tù cho bị cáo xuống ngang bằng thời gian đã chấp hành hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cảm hóa người phạm tội.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

[5]. Đối với số tiền 25.000.000 đồng bồi thường thiệt hại bị cáo T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 000554 ngày 13/11/2025 do Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An phát hành thì anh T2 có quyền liên hệ với Thi hành án dân sự tỉnh N để nhận khi yêu cầu thi hành án.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

[1]. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

[2]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T5, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T5 07 (Bảy) tháng 14 (Mười bốn) ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng được trừ thời gian chấp hành án từ ngày 06 tháng 11 năm 2024 đến ngày 20 tháng 06 năm 2025 tại Trại giam S Bộ C1. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính.

[3]. Quyết định về bồi thường dân sự tại Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND Khu vực 5-Nghệ An;
  • - VKSND Khu vực 5-Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Phòng THADS Khu vực 5-Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án,

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Quang Trung Nguyễn Đức Anh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 154/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận 1 phần kc, sửa án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hp cho bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger