|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2026/HS-PT Ngày: 14-01-2026 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tấn
Ông Phùng Văn Định
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phan Thanh Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 195/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Trung T và Phạm Tiến Đ do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Trung T, sinh ngày 17/02/1995 tại tỉnh Trà Vinh; số CCCD: 084095000121, cấp ngày 12/3/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C2; nơi thường trú: Ấp M, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp M, phường D, tỉnh Vĩnh Long); chỗ ở hiện nay: Số C, B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng C (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền sự đã được xóa (Tại Quyết định số 264/QĐ-XPVPHC ngày 08/4/2020, Chủ tịch UBND phường C, quận N xử phạt hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong). Bị cáo tại ngoại có mặt.
Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị (không được Tòa án triệu tập): Phạm Tiến Đ.
- Bị hại (không được Tòa án triệu tập), gồm: Ông Nguyễn Chí T1, bà Hứa Mỹ K, ông Huỳnh Ngọc S, bà Nguyễn Thị Cà E, bà Huỳnh Thị P, ông Hồ Anh V, ông Nguyễn Ngọc T2, bà Đoàn Thị T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 do ông Nguyễn Chí T1 đứng tên đăng ký kinh doanh tại địa chỉ số C - 38, Khu Dân cư H, Đường C, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau) là nhà phân phối độc quyền mỹ phẩm của Công ty TNHH MTV T4, địa chỉ tại số C, đường L, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào ngày 28/11/2024, Nguyễn Chí T1 đến Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh B trình báo về việc tài khoản facebook có đường link https://www.facebook.com/HuongKy.512, có hành vi lấy thông tin, hình ảnh quảng cáo từ tài khoản facebook của các đại lý và Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 đăng tải lên tài khoản Facebook www.facebook.com/HuongKy.512 để giả mạo thành trang Facebook của H kinh doanh mỹ phẩm Đông A và thao tác gửi báo cáo mạo danh trái phép cho đội ngũ quản trị Facebook về việc các trang Facebook của H kinh doanh mỹ phẩm Đông A, dẫn đến bị đình chỉ hoạt động gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh của các đại lý và ảnh hưởng đến Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2.
Nguyễn Trung T làm nghề lao động tự do. Trong đó, có kinh doanh online mỹ phẩm Đông A nhưng T không phải là đại lý và không được H kinh doanh mỹ phẩm Đông Anh cho phép sử dụng các thông tin, hình ảnh liên quan đến mỹ phẩm Đông Anh đăng tải trên các nền tảng mạng xã hội. Quá trình kinh doanh, T phát hiện nhiều trang Facebook cũng quảng cáo mỹ phẩm Đông A nên thuê Phạm Tiến Đ thao tác đình chỉ hoạt động, mục đích để cạnh tranh bán hàng.
Từ tháng 08/2024 đến tháng 11/2024, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, số I: 35284 794 796 3144, Imei2: 35284 794 768 1035 để liên lạc thuê Đ thao thác đình chỉ hoạt động các tài khoản facebook thông qua ứng dụng Zalo có tài khoản “Trực Alex”. Đ đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Promax, số I: 356703853404456, Imei2: 356703853106374 liên lạc với T qua tài khoản Zalo “Pham Tien Dat” để nhận thực hiện đình chỉ hoạt động của 38 tài khoản Facebook thuộc quyền quản trị của Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 và các đại lý. Mỗi tài khoản bị đình chỉ, T trả công cho Đ từ 700.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Sau khi thỏa thuận, Đ đã sử dụng tài khoản www.facebook.com/HuongKy.512 do Đ quản trị, tìm kiếm vào các trang Facebook của H kinh doanh mỹ phẩm Đ để lấy các thông tin, hình ảnh đại diện, tải về máy tính cá nhân lưu trữ. Sau đó, đăng tải hình ảnh, thông tin lên tài khoản facebook www.facebook.com/HuongKy.512; sau khi giả mạo tài khoản facebook của Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2, Đ sử dụng tài khoản facebook này gửi báo cáo mạo danh cho đội ngũ quản trị facebook về việc tài khoản facebook của H kinh doanh mỹ phẩm Đông A có hành vi mạo danh, để đội ngũ Facebook kiểm tra, đình chỉ hoạt động các tài khoản facebook theo yêu cầu T; Đ nhận được số tiền 36.600.000 đồng.
Kết quả có 31 tài khoản facebook bán hàng các đại lý và của Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 bị đình chỉ hoạt động; bị hại xác định bị hiệt hại số tiền 295.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 29/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 289; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm tù về tội “Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo còn lại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/10/2025, bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau về phần hình phạt.
- - Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trung T thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: từ tháng 08/2024 đến tháng 11/2024, bị cáo T thuê Phạm Tiến Đ nhiều lần truy cập vào các tài khoản Facebook của các đại lý và Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 do Nguyễn Chí T1, Hứa Mỹ K và nhiều người khác quản lý lấy các thông tin, hình ảnh quảng cáo. Sau đó, đăng tải hình ảnh, thông tin lên tài khoản Facebook www.facebook.com/HuongKy.512, do bị cáo Đ quản trị, sử dụng giả tạo tài khoản Facebook của Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2, gửi tài khoản giả tạo đến đội ngũ quản trị Facebook về việc tài khoản Facebook của Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 có hành vi mạo danh, vi phạm dẫn đến bị đình chỉ hoạt động 31 tài khoản Facebook của các đại lý và Hộ kinh doanh mỹ phẩm Đ2 gây thiệt hại số tiền 295.000.000 đồng. Bị cáo Đ thu lợi từ bị cáo T số tiền 36.600.000 đồng. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau đã xét xử các bị cáo T và Đ về tội “Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác” quy định tại khoản 1 Điều 289 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[2] Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó, bị cáo T là người khởi xướng, thuê bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo quy định. Sau khi xét xử sơ thẩm, chỉ có bị cáo T kháng cáo.
[3] Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; Bị hại Hứa Mỹ K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nhiều lần xâm nhập trái phép vào mạng máy tính của người khác nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên. Từ đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 01 năm tù - mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, lý do, bị cáo là lao động chính trong gia đình (nuôi bà ngoại 85 tuổi thường xuyên bị bệnh, em gái đang học Đại học), năm 2024 và 2025 bị cáo tham gia công tác thiện nguyện, chăm lo cho các cháu trẻ tàn tật mồ côi tại Trung tâm B, thân nhân bị cáo có công với cách mạng (ông cố Nguyễn Văn M là liệt sĩ; ông nội Nguyễn Tiến D là thương binh hạng 4/4, được tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua Hội CCB 05 năm lần thứ 3 (2000-2004), Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, Kỷ niệm chương vì sự nghiệp chăm sóc và phát huy người cao tuổi Việt Nam, Huy chương cựu chiến binh Việt Nam, được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng, bà nội Kiều Thị Đ1 được UBND tỉnh T tặng Bằng khen vì đã có đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông chú Nguyễn Văn C1 là liệt sĩ). Với các tình tiết giảm nhẹ mới này cũng chỉ đủ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo Đ, tuy bị cáo không có kháng cáo, nhưng xét thấy bị cáo cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cũng cần giảm mức hình phạt cho phù hợp với vị trí, vai trò của bị cáo trong vụ án.
[4] Do sửa án sơ thẩm, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không được chấp nhận.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1 và khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung T và Phạm Tiến Đ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 289; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 09 (chín) tháng tù về tội “Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 289; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác”. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/4/2025.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |
Bản án số 15/2026/HS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (criminal appeal)
- Số bản án: 15/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Criminal Appeal)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo, giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo
