|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 08 - 2028
v/v “tranh chấp xác định cha cho con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh và ông Đinh Đức Thành
Thư ký phiên tòa: ông Hà Trung Nghĩa – Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
ông Nguyễn Đăng Viện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/08/2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 05 năm 2025 về việc: “tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/08/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/08/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Duy C – sinh năm 2000. Nơi thường trú: thôn K, phường M, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt; Có đơn xử án vắng mặt.
Bị đơn: Chị Dương Việt T – sinh năm 2000. Nơi thường trú: khu A H, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt; Có đơn xử án vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Văn T1 – sinh năm 1991. Nơi thường trú: thôn N, phường Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn Phạm Duy C trình bày: Chị Dương Việt T và anh Đoàn Văn T1 là vợ chồng. Anh quen biết với chị Dương Việt T vào tháng 03/2023 khi anh đến làm việc tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, khi đó chị T và T1 đã sống sống ly thân. Anh và chị T phát sinh tình cảm, chị T có thai, ngày 11/12/2024 tại Bệnh viện S chị T sinh con, con có Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S. Anh đi giám định AND và kết quả giám định kết luận con theo Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S là con của anh. Ngày 15/01/2025 chị Dương Việt T và anh Đoàn Văn T1 được Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên giải quyết cho ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2025. Con do chị T sinh ngày 11/12/2024, khi đó chị T và anh T1 còn đang là vợ chồng, vì vậy cho đến nay, anh không đăng ký anh là cha trên giấy khai sinh của con được. Vì vậy anh đề nghị Tòa án xác định con do chị T sinh ra theo Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S là con của anh. Đơn xử án vắng mặt ghi ngày 22/8/2025, anh giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và đề nghị xét xử vắng mặt.
2
Bị đơn là chị Dương Việt T, trong bản tự khai biên bản lấy lời khai, trình bày như sau: chị và anh Đoàn Văn T1 là vợ chồng, vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, chị và anh T1 sống ly thân. Tháng 3 năm 2023 chị quen biết với anh Phạm Duy C, hai người có tình cảm, ngày 11/12/2024 chị sinh con tại Bệnh viện S. Chị và anh Đoàn Văn T1 ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Con do chị sinh ra ngày 11/12/2024 còn đang trong thời gian chị và anh T1 là vợ chồng, vì vậy chị không đi đăng ký khai sinh tên cha là Phạm Duy C cho con được. Anh C khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác nhận anh là cha của con do chị sinh ngày 11/12/2024 chị đồng ý. Chị Dương Việt T có đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Văn T1, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi đến Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của T1 về những nội dung mà anh C yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, kèm theo đơn khởi kiện anh C đã nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ sau, bản sao Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S; kết quả phân tích AND số 25120IG/DNA ngày 17/02/2025 của Công ty TNHH Đ; bản sao quyết định 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành các trình tự tố tụng trong việc giải quyết vụ án, nhưng do người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Văn T1 vắng mặt khi hòa giải, vì vậy không có kết quả hòa giải thành, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phien tòa đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Duy C, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện viện kiểm sát xét thất, yêu cầu khởi kiện của Phạm Duy C là có căn cứ, nên được chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử, xác định anh Phạm Duy C là cha của con do chị Dương Việt T sinh ngày 11/12/2024 theo giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Dương Việt T có nơi cư trú tại khu A phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, nên yêu câu xác định cha cho con của anh Phạm Duy C đã được Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thụ lý số 45/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2025 và Tòa án nhân dân khu vực 2-Quảng Ninh đưa ra xét xử ngày 29/8/2025, đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi năm 2025.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có lý do; Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn xử án vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Phạm Duy C như sau: anh C yêu cầu Tòa án xác định con do chị Dương Việt T sinh ngày 11/12/2024 theo giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S là con của anh. Xét yêu cầu khởi kiện của anh C, đánh giá chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của anh C, Hội đồng xét xử xét thấy: tại thời điểm chị Dương Việt T sinh con theo Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S, chị T và anh Đoàn Văn T1 trong thời kỳ hôn nhân, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân gia đình thì con do chị T sinh ra theo giấy chứng sinh này là con của chị T và anh T1. Nhưng trên cơ sở tài liệu anh C giao nộp là kết quả phân tích AND số 25120IG/DNA ngày 17/02/2025 của Công ty TNHH Đ, kết luận anh Phạm Duy C và con sinh ra theo Giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S, có quan hệ huyết thống, là cha - con. Bị đơn là chị Dương Việt T cũng có quan điểm anh C là cha của con sinh ra theo giấy chứng sinh này, còn anh Đoàn Văn T1 mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của anh C. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của anh C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 90; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình, nên yêu cầu xác nhận cha cho con của anh C được chấp nhận.
[3]Về án phí: yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Duy C thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh C có đề nghị được miễn án phí nên anh C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2025).
Áp dụng: Điều 88; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Duy C.
Xác định anh Phạm Duy C là cha của con do chị Dương Việt T sinh ra theo giấy chứng sinh số 6927 ngày 12/12/2024 của Bệnh viện S.
Về án phí: anh Phạm Duy C được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Minh Ngà |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2028 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2028
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Duy C yêu cầu xác nhận cha cho con
