|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 144/2026/DS - PT Ngày 05 - 02 - 2026 V/v“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Vương Minh Tâm, Ông Lê Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 697/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 832/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 104/2026/QĐ – PT ngày 23 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Phan Thị Hoàng O, sinh năm 1967 (có mặt)
- Ông Trần Văn C, sinh năm 1957 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O:
- Anh Trần Quang K, sinh năm 1996 (vắng mặt). Địa chỉ: Số nhà G, Khu phố C, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Nguyễn Tưới A, sinh năm 2002 (xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Ngô Nhật T, sinh năm 1995 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp H, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ liên hệ: Số A Ẻ, đường số C, Khu dân cư S, khu phố M, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 06/10/2025.
Người đại diện hợp pháp của anh Trần Quang K, anh Ngô Nhật T:
- Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1997 (có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2003 (xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Số B, ấp A, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 08/01/2026.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà O: Luật sư Nguyễn Văn T2, Luật sư Huỳnh Văn V, Công ty luật Luật sư M và Cộng sự - Chi nhánh V1 (vắng mặt).
- Bị đơn:
- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ thường trú: 1 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là 1 Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình). Chỗ ở hiện nay: A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là A, khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long).
- Anh Nguyễn Hữu L sinh năm 1993 (có mặt). Địa chỉ thường trú: Thị Trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên).
Người đại diện hợp pháp của chị H: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1978. Địa chỉ: F, khu phố B, phường A, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 02/01/2026.
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C là nguyên đơn; chị Nguyễn Thị Thu H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C và trong quá trình giải quyết vụ án ông Đinh Minh P1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 26/7/2023, ông Trần Văn C và vợ là bà Phan Thị Hoàng O ký hợp đồng đặt cọc với chị Nguyễn Thị Thu H. Theo đó, ông C và bà O có nhận của chị H số tiền cọc là 350.000.000 đồng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 989 + 990, tờ bản đồ số 01, diện tích 733,3m² tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Giá chuyển nhượng phần đất nêu trên là 879.000.000 đồng. Sau khi đo đạc để tách thửa cho chị H là thửa đất số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C2 (địa chỉ số D, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre), số công chứng: 1587, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/7/2023. Chị Nguyễn Thị Thu H đã đặt cọc trước số tiền là 350.000.000 đồng thời hạn đặt cọc là 12 tháng tại Điều 2 Hợp đồng đặt cọc. Số tiền còn lại 529.000.000 đồng thanh toán theo thỏa thuận trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đặt cọc là ngày 26/7/2023. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Thu H chưa thanh toán số tiền 529.000.000 đồng cho vợ chồng ông C và bà O.
Ngày 04/5/2024, ông Trần Văn C1 có chuyển nhượng tiếp cho chị Nguyễn Thị Thu H phần diện tích 38m² thuộc một phần thửa đất số 989, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre với giá chuyển nhượng là 12.500.000 đồng. Phần tiền này chị H và anh L đã thanh toán đủ. Ông C, bà O không tranh chấp phần diện tích này. Hiện nay, phần đất có diện tích 773,5m² thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị Thu H quản lý, canh tác và sử dụng.
Nay ông C, bà O yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 26/7/2023 giữa ông Trần Văn C và bà Phan Thị Hoàng O với chị Nguyễn Thị Thu H. Do bên chị H vi phạm hợp đồng nên ông C, bà O không đồng ý trả lại số tiền là 350.000.000 đồng. Yêu cầu anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị Thu H tháo dỡ công trình trên đất trả lại hiện trạng đất phần đất có diện tích 773,5m² thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cho ông C và bà O.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H và người đại diện hợp pháp bà Đỗ Thị P trình bày: Chị H đã thanh toán đầy đủ 350.000.000 đồng tiền cọc. Sau đó, vợ chồng bà O yêu cầu đặt cọc thêm 50.000.000 đồng. Chị H đã tiến hành cải tạo đất, xây nhà cây, trồng sầu riêng với tổng chi phí khoảng 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến hạn chuyển nhượng, bà O và ông C không đến văn phòng công chứng. Nay chị H yêu cầu hoàn trả tiền cọc 350.000.000 đồng và bồi thường 350.000.000 đồng, tổng cộng 700.000.000 đồng; yêu cầu trả lại 50.000.000 đồng tiền cọc thêm và bồi hoàn chi phí cải tạo đất, xây dựng công trình.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 137/2025/DS-ST ngày 21/9/2025, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Sau đó, cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt một số đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2025.
1. Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Phan Thị Hoàng O, ông Trần Văn C, chị Huỳnh Thị D với bị đơn anh Nguyễn Hữu L, bà Đỗ Thị P (đại diện chị Nguyễn Thị Thu H):
- Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 26/7/2023 đối với phần thửa đất 898+990 (nay là thửa 528, tờ bản đồ số 06, xã T, tỉnh Vĩnh Long).
- Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L có trách nhiệm trả lại thửa đất 528 cho ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O.
- Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L số tiền 512.500.000 đồng (bao gồm tiền cọc, tiền chuyển nhượng, tiền giá trị cây trồng và tài sản xây dựng trên đất).
- Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng và công trình do anh L, chị Hồng T4 xây dựng trên thửa đất 528.
2. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 12.524.000 đồng. Ông Trần Văn C, bà Phan Thị Hoàng O tự nguyện chịu 6.262.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L tự nguyện chịu 6.262.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho ông Trần Văn C. Bà Phan Thị Hoàng O phải chịu 12.250.000 đồng (được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp). Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu 300.000 đồng án phí.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà Phan Thị Hoàng O và chị Nguyễn Thị Thu H.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - TAND Khu vực 5 – Vĩnh Long; - Phòng THADS Khu vực 5 – Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Hùng |
Bản án số 144/2026/DS - PT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 144/2026/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng đặt cọc
