|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2025/HS-ST
Ngày: 14/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Nguyễn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương Sơn - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ. Giới tính: Nam. Sinh ngày 22/10/1994. CCCD số [...]. Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là xã B, thành phố Hà Nội). Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 5/12. Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 05/6/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Khắc T1, sinh năm 1979. Luật sư thuộc Văn phòng L. Địa chỉ: Số B, đường N, phường C, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Nguyễn Huy S, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Thôn T, xã B, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 07/01/2025, Nguyễn Văn Đ đến xưởng làm nhôm kính của anh Nguyễn Huy S ở thôn T, xã B, huyện T. Lúc này, trong xưởng có anh S và 02 người thợ đang làm việc là anh Nguyễn Huy D (anh trai anh S) và anh Nguyễn Tuấn V (cùng thôn với anh S). Đ nói với anh S: “Mai cho vay ít tiền tiêu”. Do trước đó Đ nhiều lần vay tiền của anh S nhưng không trả nên anh S nói với Đ: “Nếu một vài trăm thì anh cho vay được”. Sau đó, anh S lấy 150.000 đồng đưa cho Đ nhưng Đ chỉ lấy 100.000 đồng và trả lại anh S 50.000 đồng rồi nói: “M đưa hai triệu để tiêu, nhà hết tiền rồi”. Anh S đáp: “Chỉ cho vay được tiền trăm thôi, tiền triệu thì không có”. Sau đó Đ đi về.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, Đ lấy ở nhà 01 con dao bầu (dài 34cm, mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm) dắt vào phía sau mạn sườn bên phải rồi đi sang xưởng nhôm kính của anh S. Đến nơi, Đ ngồi vào bàn uống nước đặt ở sát tường phía nam cạnh cửa xưởng và hỏi anh S cho vay tiền. Anh S nói: “Hai triệu thì anh không có”. Đường tiếp tục nói: “Anh cho em mượn cái xe của anh mang đi cắm” nhưng bị anh S từ chối. Đường dùng tay phải rút con dao bầu ra, giơ mũi dao chỉ về phía trước mặt không có người, rồi đặt con dao xuống mặt bàn. Lúc này, anh S nói: “Xe của anh không cho mượn đâu", rồi đứng dậy đi làm việc. Đường ngồi ở bàn uống nước một lúc rồi cầm con dao trên mặt bàn đi về.
Đến 11 giờ 56 phút cùng ngày, Đ tiếp tục mang theo dao quay lại đứng ở khu vực cửa xưởng, cách chỗ anh S đang đứng khoảng 06 mét rồi dùng tay phải cầm dao bầu chỉ về phía anh S, anh D, anh V đang đứng trong xưởng và lớn tiếng đe dọa “Chúng mày ở im đấy”, rồi yêu cầu anh S phải cho vay 2.000.000 đồng. Thấy Đ có thái độ hung hãn và biết Đ là đối tượng nghiện ma túy nên anh S nói: “Mày cứ bỏ dao ra nói chuyện đoàng hoàng xem nào” thì Đ ném con dao về phía trước và tiến lại gần về phía S đang đứng trong xưởng. Nhìn thấy Đ đã ném con dao nên anh D tiến lại nhặt con dao lên cầm trên tay, cùng thời điểm này, anh S hỏi vay anh D 1.000.000 đồng để đưa cho Đ vay. Thấy chưa đủ số tiền 2.000.000 đồng theo yêu cầu nên Đ quay ra đòi lại con dao nhưng anh S can ngăn nên Đường không đòi dao nữa mà để lại số tiền 1.000.000 đồng trên mặt quạt hơi nước rồi đi ra ngoài cửa xưởng. Do lo sợ ảnh hưởng đến an toàn và công việc trong xưởng nên anh S lấy thêm trong người số tiền 1.000.000 đồng gộp với số tiền đã vay của D thành 2.000.000 đồng rồi đi theo sau ra ngoài cửa xưởng đưa cho Đ. Sau khi nhận được số tiền theo yêu cầu thì Đ quay lại đi vào bên trong xưởng để đòi lại con dao nhưng mọi người khuyên can nên Đ bỏ đi về.
Ngày 08/01/2025, anh Nguyễn Huy S đến Công an xã B, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là Công an xã B, Hà Nội) trình báo sự việc và đề nghị xử lý theo pháp luật.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (cũ) đã tiến hành xác định hiện trường vụ án, thu giữ vật chứng. Kết quả như sau:
Tại biên bản xác định hiện trường vụ án lập hồi 14 giờ 50 phút ngày 20/01/2025, xác định:
“...Hiện trường xảy ra được xác định tại xưởng nhôm kính của anh Nguyễn Huy S tại thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp với nhà ông Nguyễn Văn B. Phía Đông giáp với đường liên thôn. Phía Nam và phía Tây giáp với nhà ông Nguyễn Văn T.
Trên sơ đồ hiện trường, tại vị trí cách tường phía Tây của xưởng nhôm kính 1120cm, cách tường phía Nam 70cm là vị trí Nguyễn Văn Đ rút dao bầu chỉ về phía trước, hướng ra ngoài.
Tại vị trí cách tường phía Nam của xưởng nhôm kính 310cm, cách tường phía Đông 200cm là vị trí Nguyễn Văn Đ cầm dao bầu chỉ về anh S, sau đó ném dao bầu về phía anh S.
Tại vị trí cách tường phía Nam của xưởng nhôm kính 270cm, cách tường phía Tây 300cm là vị trí con dao rơi sau khi Đ ném dao về phía anh S.
Tại vị trí cách tường phía Nam của xưởng nhôm kính 400cm, cách tưởng phía Tây 600cm là vị trí anh S đưa số tiền 1.000.000 đồng cho Đ nhưng Đường không nhận.
Tại vị trí cách tường phía Nam của xưởng nhôm kính 500cm, cách tưởng phía Đông 300cm là vị trí anh S đưa số tiền 2.000.000 đồng cho Đ....”
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ vật chứng là 01 con dao bầu dài 34cm, mũi dao nhọn; trong đó lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm (do Nguyễn Văn Đ giao nộp).
Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn Đ đã từng điều trị bệnh tâm thần nên ngày 17/01/2025, Cơ quan điều tra đã có Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Đ.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 157/KLGĐTC ngày 05/9/2025 của V1 - Bộ Y về tình trạng tâm thần của Nguyễn Văn Đ, kết luận:
“...Tại các thời điểm trước và trong khi xảy ra vụ án vào ngày 07/01/2025, bị can Nguyễn Văn Đ bị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy với hội chứng nghiện. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là F19.2. Tại các thời điểm sau khi xảy ra vụ án vào ngày 07/01/2025 và tại thời điểm giám định, bị can Nguyễn Văn Đ bị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, với hội chứng nghiện hiện đang cai, nhưng ở trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là F19.21.
Tại tất cả các thời điểm nêu trên, Nguyễn Văn Đ đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi...”
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, gia đình Nguyễn Văn Đ đã trả lại cho anh Nguyễn Huy S số tiền 2.000.000 đồng. Anh S đã nhận đủ tiền, không yêu cầu về phần bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 74/CT - VKS - HS ngày 24/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn Đ về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ 15 đến 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 05/6/2025.
- - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tài sản nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: 01 con dao bầu dài 34cm, mũi dao nhọn; trong đó lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm (do Nguyễn Văn Đ giao nộp) là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Về án phí và quyền kháng cáo: theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị hại là anh Nguyễn Huy S, người bào chữa cho bị cáo là ông Trần Khắc T1 đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo gửi bản luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo với lý do: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại thực tế đến tính mạng sức khỏe của người khác; bị cáo có nhân thân tốt, nhận thức pháp luật hạn chế do học vấn thấp; gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: Có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, trong ngày 07/01/2025, Nguyễn Văn Đ đã nhiều lần mang theo dao bầu (có chiều dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm) đến xưởng nhôm kính của anh Nguyễn Huy S (ở thôn T, xã B, thành phố Hà Nội), tỏ thái độ hung hãn, giơ dao đe dọa, uy hiếp tấn công, làm anh S lo sợ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ và công việc nên buộc phải đưa cho Đ số tiền 2.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội đã truy tố.
Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, uy hiếp gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe của công dân; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Bị cáo lần đầu phạm tội; sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo; đã cùng gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho người bị hại. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thể tham gia phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên bị cáo được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 05/6/2025, nên thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Huy S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nay không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về xử lý vật chứng: 01 con dao bầu thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 05/6/2025.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bầu dài 34cm, mũi dao nhọn; trong đó lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Hà Nội ngày 29/9/2025).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 142/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về hình sự - cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 142/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 11.25 BA Nguyen Văn Đ (170-Hoa)
