|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2026/LĐ-PT
Ngày 20/01/2026
V/v “Tranh chấp về trường hợp bị đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động,
đòi tiền lương”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Luật;
Bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2 mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 93/2025/TLPT-LĐ ngày 13/11/2025 về việc “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7739/2025/QĐ-PT ngày 23/12/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Chu Thị Thu H, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Tấn T là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.
- - Bị đơn: Công ty Cổ phần V1; địa chỉ: ấp Ô, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1984; địa chỉ: số A đường P, tổ G, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 16/9/2024). Có mặt.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Chu Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Chu Thị Thu H trình bày:
Bà Chu Thị Thu H đến Công ty Cổ phần V1 (sau đây viết tắt là Công ty hoặc Công ty V1) làm việc từ ngày 01/12/2022, đến ngày 02/01/2023 thì được ký kết Hợp đồng lao động số: 001NS/2023- HĐLĐ/VT; thời hạn hợp đồng: 01 năm, từ ngày 02/01/2023 đến ngày 31/12/2023; công việc: công tác nhân sự; mức lương: 22.000.000 đồng/tháng. Sau 10 tháng làm việc, Công ty điều chuyển bà H về xưởng cũ ở xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (cũ) bằng Hợp đồng lao động mới số: 002NSVT/2023- HĐLĐ/VT; thời hạn hợp đồng: 03 năm, từ ngày 05/9/2023 đến ngày 04/09/2026; công việc: công tác nhân sự với chức vụ: quản lý nhân sự; mức lương 23.000.000 đồng/tháng.
Từ tháng 10 năm 2023, Công ty T2 không đủ theo hợp đồng lao động. Bà H có hỏi thì phía Công ty nói: bà H đi làm từ 08 giờ 30 phút nên lương chỉ được vậy (theo Thông báo đề ngày 11/10/2023). Bà H cũng đã trích dẫn hợp đồng lao động có quy định thời gian làm việc nhưng đã bị phớt lờ.
Ngày 23/12/2023, bà H đang làm việc thì bị Bảo vệ cơ động giám sát trong vòng 2 mét. Sau đó, bà H nhận được quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với Lý do: vi phạm Luật lao động, vi phạm nội quy công ty, coi thường thông báo đã ban hành.
Ngày 16/01/2024, bà H lại tiếp tục nhận được quyết định thôi việc đề ngày 25/12/2023 với lý do: hết hạn Hợp đồng.
Trước đó, bà H cũng đã nghe được rất nhiều thông tin mình bị đuổi việc từ người lao động và khách hàng mình đang phụ trách.
Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết các yêu cầu sau:
-
Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Do đó:
- - Tiền lương, cho những ngày không được là việc tính từ ngày 23/12/2023 đến hết thời hạn Hợp đồng 04/09/2026: 32.5 tháng x 23.000.000 đồng/tháng = 747.500.000 đồng.
- - Tiền Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày không được làm việc (tính đến hết thời hạn hợp đồng lao động: 32 tháng x 23.000.000 đồng/tháng x 21.5% = 158.240.000 đồng.
- - 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động: 02 tháng x 23.000.000 đồng = 46.000.000 đồng.
- Bồi thường vi phạm thời hạn báo trước 30 ngày: 23.000.000 đồng/tháng : 26 ngày công/tháng x 30 ngày = 26.538.000 đồng.
3
- Trợ cấp mất việc làm: 02 tháng x 23.000.000 đồng = 46.000.000 đồng.
-
Thanh toán tiền lương còn thiếu: từ tháng 10-11-12/2023: 15.300.000 đồng.
Lương 10/2023 còn thiếu 6.300.000 đồng; lương 11/2023 còn thiếu: 6.000.000 đồng và L 12/2023 còn thiếu: 3.000.000 đồng.
- Tiền lãi do thanh toán chưa đủ lương tạm tính: 15.300.000 đồng x 6.0% x 32 tháng = 29.376.000 đồng.
- Tiền lương tháng 13 theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng lao động: 23.000.000 đồng.
- Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động: 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường. Theo hợp đồng lao động, bà H được 36 ngày: 23.000.000 đồng/tháng x 26 ngày công x 36 ngày = 31.846.000 đồng.
- Bà H yêu cầu được nhận 03 tháng bảo hiểm thất nghiệp (HĐLĐ: 03 năm): 23.000.000 đồng/tháng x 60% x 3 tháng = 41.400.000 đồng.
* Theo bản tự khai của bị đơn Công ty Cổ phần V2 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
Công ty V1 luôn chấp hành đúng quy định pháp luật lao động trong thời gian qua, đặc biệt trong giao kết, chấm dứt hợp đồng với người lao động. Trường hợp bà Chu Thị Thu H khởi kiện Công ty với lý do bị đơn phương trái pháp luật là hoàn toàn không đúng sự thật, là do bà Chu Thị Thu H cố ý qua mặt người sử dụng lao động để chỉnh sửa nhiều thông tin và cung cấp thông tin không trung thực trong Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 4/9/2023 giữa Công ty V1 với bà H, lợi dụng lòng tin để lừa dối ông Ding Hai H1 ký hợp đồng lao động mà ông H1 không hề biết. Bên cạnh đó, bà H cố ý dùng thủ đoạn xảo quyệt nhằm làm giả Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023, Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động nhằm mục đích khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, có dấu hiệu làm giả giấy tờ, tài liệu. Cụ thể sự việc như sau:
Công ty có ký Hợp đồng lao động số M221201.03, ngày ký 30/12/2022 với bà Chu Thị Thu H; thời hạn hợp đồng lao động là 01 năm, bắt đầu từ ngày 30/12/2022 đến ngày 29/12/2023 (Gọi tắt là hợp đồng M221201.03).
Ngày 15/7/2023, Cơ quan bảo hiểm xã hội B1 có buổi làm việc với công ty về việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Vì muốn tăng số tiền tham gia bảo hiểm xã hội bà H trình cho ông Vũ Xuân D1 là đại diện pháp luật Công ty trong tháng 7/2023 ký một hợp đồng lao động khác lùi ngày mang số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ngày 02/01/2023 (gọi tắt là hợp đồng 001NS), loại hợp đồng xác định thời hạn 1 năm, bắt đầu từ ngày 02/01/2023 đến ngày 31/12/2023. Mục đích ký hợp đồng này dùng để cung cấp cho cơ quan bảo
4
hiểm xã hội truy tăng số tiền tham gia bảo hiểm xã hội của bà H chứ không nhằm mục đích làm việc và trả lương. Ông Ding Hai H1 không biết có hợp đồng này.
Chính vì Hợp đồng 001NS bị trùng với hợp đồng M221201.03 nên Hợp đồng 001NS không phát sinh hiệu lực. Đồng thời, trong hợp đồng 001NS có những nội dung không đúng, không trung thực như sau:
- Thông tin người sử dụng lao động không đúng với người ký kết hợp đồng lao động: Phần thông tin người sử dụng lao động (trang số 1 của hợp đồng lao động) là tên ông Ding Hai H1 nhưng người ký hợp đồng lao động lại là ông Vũ Xuân D1.
- Thông tin người lao động cung cấp không trung thực: Bà Chu Thị Thu H có số căn cước công dân đúng là 038184025627 (12 số). Tuy nhiên, trong hợp đồng 001NS là 0381840025627 (13 số).
- Nội dung thỏa thuận không đúng thực tế: Bà H vào làm việc từ ngày 01/12/2022 (theo mã số nhân viên) và chính thức ký kết hợp đồng lao động ngày 30/12/2022 đến 29/12/2023, nhưng Hợp đồng 001NS lại giao kết thời hạn hợp đồng từ ngày 02/01/2023 đến 31/12/2023 là không đúng với thực tế đã giao kết và làm việc.
Sau đó, bà H tiếp tục lợi dụng sự tin tưởng của ông D3 để qua mặt ông và ký Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT (gọi tắt là Hợp đồng 002NSVT); thời hạn từ ngày 5/9/2023 – 4/9/2026. Sau đó, Bà H tự đóng dấu Công ty và giữ cho riêng mình, không lưu tại Công ty.
Vì Hợp đồng M221201.03 đang còn hiệu lực đến 29/12/2023, nên Hợp đồng 002NSVT không phát sinh hiệu lực. Đồng thời, trong Hợp đồng 002NSVT có những nội dung không đúng, không trung thực như sau:
- Thông tin người lao động cung cấp không trung thực: bà Chu Thị Thu H có số căn cước công dân đúng là 038184025627 (12 số), nhưng trong Hợp đồng 002NSVT là 0381840025627 (13 số).
- Thời gian làm việc theo Hợp đồng 002NSVT không trùng với thời gian làm việc trong nội quy lao động của Công ty: trong Hợp đồng 002NSVT được bà H tự ý chỉnh sửa thời gian làm việc buổi sáng từ 8 giờ 30 phút đến 11 giờ 00 phút; buổi chiều từ 12 giờ 30 đến 16 giờ 30 phút (tổng thời gian làm việc đã điều chỉnh còn 6 giờ 30 phút mỗi ngày). Trong khi nội quy Công ty quy định thời gian làm việc 8 giờ mỗi ngày, buổi sáng 7 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút; buổi chiều từ 13 giờ 00 phút đến 17 giờ 00 phút. Đây là hành vi gian dối qua mặt người sử dụng lao động để chỉnh sửa giảm bớt 1 giờ 30 phút mỗi ngày làm việc, ngay cả người mang thai hoặc nuôi con nhỏ cũng chỉ giảm 1 giờ làm việc.
- Nội dung thời hạn hợp đồng không hợp lý vì thời hạn Hợp đồng lao động số M221201.03 chưa hết hạn lại giao kết Hợp đồng lao động số 002NSVT. Bà H đã giao kết Hợp đồng lao động M221201.03 là 1 năm từ ngày 30/12/2022 đến 29/12/2023. Khi chưa hết hạn Hợp đồng lao động số M221201.03 (ngày
5
29/12/2023 hết hạn) thì lại ký tiếp Hợp đồng lao động 002NSVT từ ngày 5/9/2023 là không đúng với thời hạn đã giao kết trong Hợp đồng lao động số M221201.03. Do vậy, Hợp đồng lao động số 002NSVT không phát sinh hiệu lực, đồng thời tại Điều 5, điều khoản thi hành của Hợp đồng lao động số 002NSVT không ghi nội dung thay thế hay hủy bỏ Hợp đồng lao động số M221201.03. Do vậy, Hợp đồng lao động số M221201.03 là hợp đồng đang có hiệu lực.
Đối với thông báo cho nghỉ việc và quyết định thôi việc chính thức từ Công ty thì Công ty chỉ ra một Thông báo ngày 29/10/2023 về việc thông báo không gia hạn hợp đồng lao động đối với bà H và Quyết định số QĐTV-VT/V20231229.01 về việc thôi việc bà H ngày 29/12/2023 do hết hạn Hợp đồng lao động số M221201.03. Còn Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023, Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 là giả, không được phát hành từ Công ty, cụ thể:
Do Bà H không làm được việc là kế toán khi nhận vào Công ty nên được Công ty chuyển qua bộ phận nhân sự. Trong thời gian làm nhân sự, Công ty có giao cho bà H công việc liên quan đến người lao động nước ngoài. Bà H dùng sự tin tưởng của ông H1 đối với bà nên yêu cầu ông H1 ký trước các tờ giấy trắng không có nội dung để làm thủ tục cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, xuất cảnh nhập cảnh để gửi các cơ quan ban ngành có liên quan khi ông H1 đi vắng hoặc ở nước ngoài không ký được. Sau đó, bà H tự ý in thêm nội dung đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vào giấy trắng có chữ ký sẵn của ông H1 và giữ cho mình để khởi kiện Công ty. Ông H1 hoàn toàn không biết nội dung của các quyết định này. Ông H1 phát hiện bà H làm giả Quyết định số 006/2023-QĐTV ngày 20/11/2023 và có trao đổi bà H nhưng bà H vẫn giữ nguyên quyết định.
Điểm rõ nhất của Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023, Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động do bà H tự ý in thêm nội dung để khởi kiện Công ty là có dòng chữ tại nơi nhận “Gửi cơ quan ban ngành khác”. Công ty không gửi cơ quan ban ngành khác các quyết định nội bộ mà không nhằm mục đích gì là vô lý.
Đồng thời, Công ty cũng không thể cách 03 ngày từ ngày 23/12/2023 đến ngày 25/12/2023 lại ra 02 quyết định mà nội dung cho thôi việc với 02 lý do khác nhau, quyết định sau không hủy bỏ quyết định trước là hết sức vô lý. Bên cạnh đó, số Quyết định 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và số 008/2023-QĐTV không nằm trong sổ lưu văn bản của Công ty. Quy tắc lấy số của các quyết định chấm dứt hợp đồng lao động Công ty không lấy theo chuỗi số này mà là chữ V kèm theo ngày tháng năm kết thúc (V20231229 là ngày kết thúc đối với hợp đồng với bà H).
Từ căn cứ như trên cho thấy, bà H đã cố ý chỉnh sửa, làm giả thông tin nội dung hợp đồng lao động, cung cấp không trung thực thông tin của người lao
6
động. Có dấu hiệu làm giả giấy tờ, tài liệu, không trung thực và hợp tác, vì vậy ý kiến của Công ty như sau: không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thu H và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu phản tố như sau:
- + Hủy hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ký ngày 02/01/2023 và Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ký ngày 04/9/2023 giữa Công ty cổ phần V1 với bà Chu Thị Thu H.
- + Hủy Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Chu Thị Thu H.
- + Hủy Quyết định số 004/2023-QĐVT ngày 03/9/2023 về việc điều chuyển nhân sự.
* Theo bản tự khai và tại phiên tòa, người làm chứng bà Phan Thị H2 trình bày:
Với vai trò là người tham mưu cho Công ty các quyết định liên quan đến tuyển dụng và cho thôi việc nhân sự, bà H2 tham mưu cho ông D2 Hai Hui ký Thông báo ngày 29/10/2023 về việc thông báo không gia hạn hợp đồng lao động đối với bà H, có chứng minh hình ảnh Zalo bà H đã nhận thông báo và Quyết định số QĐTV-VT/V20231229.01 về việc thôi việc bà H ngày 29/12/2023 do hết hạn hợp đồng lao động số M221201.03. Còn Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 là bà H tự làm, mã số 006/2023-QĐTV, 008/2023-QĐTV là do bà H tự lấy, bà H2 không tham mưu cho ông H1 ký 2 quyết định này. Bà H2 cũng không vào sổ lưu các số này tại Công ty. Quy tắc lấy số của các quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty do bà H2 tham mưu theo chuỗi số có ý nghĩa. Chữ V là tên đại diện cho tên công ty là V, kèm theo là ngày tháng năm kết thúc làm việc và loại hợp đồng lao động. Do vậy, mã số bà H được Công ty phát hành là V20231229.01 được hiểu là ngày 29 tháng 12 năm 2023 kết thúc làm việc, số 01 được hiểu là loại hợp đồng lao động 01 năm. Bà H2 cung cấp 2 quyết định thôi việc đối với ông Nguyễn T1 có mã số QĐTV –VT/V20231212.01 và ông Ngô Trí B mã số QĐTV –VT/V20231221.01 tương tự để chứng minh việc lấy mã số quản lý của công ty.
Khi bà H2 phát hiện ra hành vi làm giả 02 quyết định và có nhắn tin trao đổi bà H, nhưng bà H không giải thích được ai đã trao cho bà 02 quyết định này.
Bên cạnh đó, trong 02 quyết định tại nơi nhận đều có ghi câu gửi “các cơ quan ban hành khác”. Đây là nội dung bất thường, bà Hương không bao giờ gửi cơ quan ban ngành khác các quyết định nội bộ mà không nhằm mục đích gì là vô lý. Điều này đã chứng minh cho việc bà Hằng đã dùng các tờ giấy đã có sẵn chữ ký của ông Hui dùng cho việc gửi các giấy tờ liên quan lao động nước ngoài để in chèn nội dung chấm dứt hợp đồng lao động vào để khởi kiện Công ty.
Công ty chỉ có ký hợp đồng lao động chính thức với bà Chu Thị Thu Hằng số M221201.03, ngày ký 30/12/2022. Thời hạn hợp đồng lao động là 01
7
năm, bắt đầu từ ngày 30/12/2022 đến ngày 29/12/2023. Đối với hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 4/9/2023 là do bà Hằng dùng thủ đoạn qua mặt ông Hui để ký kết và sửa đổi nhiều thông tin trong hợp đồng. Bà Hương cũng không tham mưu sửa đổi các thông tin này mà do bà Hằng tự ý chỉnh sửa.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng đối với bị đơn Công ty Cổ phần Viestones về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần Viestones đối với nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng về việc “Tranh chấp về yêu cầu hủy văn bản, hợp đồng lao động”.
- + Tuyên bố Hợp đồng lao động số M221201.03 ký ngày 30/12/2022, Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ký ngày 02/01/2023 và Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ký ngày 04/9/2023 giữa Công ty cổ phần Viestones với bà Chu Thị Thu Hằng là vô hiệu.
- + Tuyên bố Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 của Công ty Cổ phần Viestones, Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 của Công ty Cổ phần Viestones về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Chu Thị Thu Hằng là vô hiệu.
- + Tuyên bố Quyết định số 004/2023-QĐVT ngày 03/9/2023 của Công ty Cổ phần Viestones về việc điều chuyển nhân sự đối với bà Chu Thị Thu Hằng là vô hiệu
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí giám định, nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 22/8/2025, nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 15/12/2025, nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng có đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023 do ông Ding Hai Hui đại diện Công ty Viestones ký kết với bà Hằng có hiệu lực. Do bị đơn chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thu Hằng là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
8
cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên kết quả xét xử của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, phần nhận định và phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng lao động số M221201.03 ký ngày 30/12/2022 vô hiệu là không phù hợp, đề Nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại cách tuyên án cho phù hợp với phần nhận định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến tranh luận của luật sư và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hướng giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, bị đơn có trụ sở tại xã Cây Trường II, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (nay là xã Trừ Văn Thố, Thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng được thực hiện trong thời hạn luật định nên việc kháng cáo là hợp lệ.
[3] Về việc tham gia tố tụng của đương sự: Những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập hợp lệ và có mặt tại phiên tòa. Người làm chứng là bà Phan Thị Hương đã có lời khai rõ ràng ở cấp sơ thẩm nên không cần thiết phải được triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm. Về yêu cầu của nguyên đơn triệu tập ông Ding Hai Hui tham gia phiên toà phúc thẩm với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì thấy rằng: Ông Ding Hai Hui hiện nay là người đại diện theo pháp luật của Công ty Viestones, đã có văn bản uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Dũng đại diện tham gia tố tụng. Ông Ding Hai Hui cũng đã có văn bản trình bày rõ ràng về nội dung sự việc ở cấp sơ thẩm nên không cần thiết phải được triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
9
[4] Tại phiên toà phúc thẩm, bà Chu Thị Thu Hằng còn có ý kiến đề nghị chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan Cảnh sát điều tra để điều tra về hành vi của người đại diện Công ty Viestones vu khống bà Hằng lừa dối ông Ding Hai Hui ký các giấy tờ, tài liệu. Tuy nhiên, bà Hằng cũng thừa nhận hiện tại, bà Hằng không có đơn tố cáo tội phạm và không có cơ quan Công an nào giải quyết vụ án hình sự về hành vi vu khống bà Hằng. Hội đồng xét xử không có căn cứ để tạm ngừng phiên toà hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án và không có quy định nào của pháp luật về việc Tòa án chuyển hồ sơ vụ án dân sự sang cơ quan Công an để giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự.
[5] Về nội dung vụ án: Trong vụ án này, các bên đương sự xuất trình 03 hợp đồng lao động khác nhau. Khi khởi kiện bà Hằng chỉ giao nộp Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ngày 02/01/2023 và Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023. Ngoài ra, bà Hằng còn giao nộp các tài liệu, chứng cứ khác: Quyết định số 004/2023-QĐVT ngày 03/9/2023 về việc điều chuyển nhân sự; Quyết định số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Công ty Viestones không thừa nhận các tài liệu, chứng cứ nêu trên và xuất trình Hợp đồng lao động số M221201.03 ký ngày 30/12/2022 và khẳng định đây là hợp đồng lao động duy nhất được ký kết, phát sinh hiệu lực giữa hai bên và đã được thực hiện. Khi khởi kiện, bà Hằng không giao nộp Hợp đồng lao động số M221201.03 và cũng không thừa nhận hợp đồng này, nhưng theo Kết luận giám định số 1347/KL-KTHS(TL) ngày 30/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (cũ) thì chữ ký mang tên Chu Thị Thu Hằng trên Hợp đồng lao động số M221201.03 so với chữ ký của Chu Thị Thu Hằng trên các tài liệu mẫu do cùng một người ký ra.
[6] Xét thấy, Hợp đồng lao động số M221201.03 do Công ty Viestones giao nộp có nội dung cơ bản giống như Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT do bà Hằng giao nộp, cũng có thời hạn 01 năm và công việc phải làm: Nhân sự nhưng lệch thời gian bắt đầu và kết thúc vài ngày, cụ thể như sau: Hợp đồng lao động số M221201.03 có thời hạn từ ngày 30/12/2022-29/12/2023, trong khi Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT có thời hạn từ ngày 02/01/2023-31/12/2023. Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ghi tên đại diện Công ty Viestones là ông Ding Hai Hui nhưng người ký là ông Vũ Xuân Dương. Bị đơn giải thích: Vì muốn tăng số tiền tham gia bảo hiểm xã hội nên bà Hằng trình cho ông Vũ Xuân Dương là đại diện pháp luật Công ty trong tháng 7/2023 ký một hợp đồng lao động khác lùi ngày mang số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ngày 02/01/2023, loại hợp đồng xác định thời hạn 01 năm, bắt đầu từ ngày 02/01/2023 đến ngày 31/12/2023. Mục đích ký hợp đồng này dùng để cung cấp cho cơ quan bảo hiểm xã hội truy tăng số tiền tham gia bảo hiểm xã hội của bà Hằng chứ không nhằm mục đích làm việc và trả lương. Giải thích này của Công ty Viestones là phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội huyện Bàu Bàng tại Công văn số 04/CV-BHXH ngày 04/4/2025 đính kèm bản in của Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT. Ngoài ra, bản sao của Hợp đồng lao
10
động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT do bà Hằng gửi kèm theo đơn khởi kiện cũng có ghi chú: “gửi BHXH Bàu Bàng 02/8”. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Hằng cũng thừa nhận việc ký lại hợp đồng lao động bằng Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT là do cơ quan bảo hiểm xã hội yêu cầu người đại diện theo pháp luật của Công ty tại thời điểm đó là ông Vũ Xuân Dương ký mới đăng ký được với cơ quan bảo hiểm xã hội. Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT không ghi rõ là thay thế hoặc hủy bỏ Hợp đồng lao động số M221201.03. Do đó, Hợp đồng lao động số M221201.03 là hợp đồng đầu tiên và chính thức được các bên thực hiện.
[7] Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT do bà Hằng xuất trình cũng có nội dung công việc là nhân sự nhưng thời gian có thay đổi: Xác định thời hạn 03 năm từ ngày 05/9/2023 – 04/9/2026 và tổng mức lương: 23.000.000 đồng nhiều hơn tổng lương ghi trong phiếu trả lương của Công ty Viestones cho bà Hằng hàng tháng 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023 được ký kết trong khi Hợp đồng lao động số M221201.03 đang được thực hiện mà không có nội dung hủy bỏ hay thay thế Hợp đồng lao động số M221201.03; không đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội là cũng không phù hợp. Hơn nữa, xét thực tế thực hiện hợp đồng thì thấy rằng bà Hằng vẫn làm việc theo thời gian làm việc như cũ; phiếu trả lương của Công ty Viestones cho bà Hằng vẫn ghi tổng lương ở mức 22.000.000 đồng thể hiện tình tiết bà Hằng được trả lương với mức lương như cũ, nhưng trong quá trình lao động không có bất kỳ khiếu nại hay thắc mắc gì.
[8] Việc giải thích các hợp đồng phải theo ý chí đích thực của các bên, phù hợp với mục đích của hợp đồng và thực tế khách quan của quá trình thực hiện hợp đồng. Xét các quyết định chấm dứt hợp đồng lao động do Công ty Viestones xuất trình thì có căn cứ cho thấy Công ty Viestones đã chuyển giao các thông báo qua ứng dụng Zalo cho bà Hằng thông qua bà Phan Thị Hương, nhân viên của Công ty Viestones. Đối với Quyết định số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động do bà Hằng xuất trình thì bà Hằng không chứng minh được đã lấy các quyết định đó từ ai giao và từ nguồn nào. Mặc dù chưa có cơ sở vững chắc khẳng định bà Hằng đã lừa dối ông Ding Hai Hui ký Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023, Quyết định số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá chứng cứ toàn diện, không đơn thuần chỉ xem xét về hình thức và xác định Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023, Quyết định số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 không phù hợp với thực tế khách quan, không có thực và vô hiệu là có căn cứ. Trong quan hệ lao động với Công ty Viestones, bà Hằng không phải là bên yếu thế vì bà Hằng là người phụ trách nhân sự, trực tiếp giải quyết các thủ tục, chính sách chế độ cho người lao động, trong đó có cả cá nhân bà Hằng; là người am hiểu pháp luật Việt Nam, trong khi ông Ding Hai Hui là người quản lý Công ty nhưng
11
lại là người nước ngoài, không thường xuyên ở Việt Nam và không am hiểu pháp luật Việt Nam. Bà Hằng cũng là nguyên đơn trong nhiều vụ án lao động tại các Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (cũ) nên có kiến thức và kinh nghiệm nhất định về các thủ tục tố tụng dân sự và pháp luật về lao động.
[9] Do Hợp đồng lao động số M221201.03 được xác định là hợp đồng có hiệu lực đối với các bên, hợp đồng hết thời hạn vào ngày 29/12/2023 nên Công ty Viestones có thông báo không gia hạn hợp đồng, quyết định cho bà Hằng thôi việc vào ngày 29/12/2023 là chấm dứt hợp đồng lao động khi thời hạn hợp đồng lao động đã hết, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019, không bị xem là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, yêu cầu bồi thường thiệt hại và yêu cầu trả tiền lương chênh lệch thiếu theo Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT là không có căn cứ chấp nhận. Kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến tranh luận của luật sư của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm một mặt nhận định Hợp đồng lao động số M221201.03 vô hiệu do người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền (ông Ding Hai Hui) là không đúng vì Hợp đồng này đã được thực hiện trên thực tế mà không bị thay thế, hủy bỏ bởi hợp đồng khác và được người đại diện theo pháp luật tại thời điểm đó là ông Vũ Xuân Dương thừa nhận. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn căn cứ vào Hợp đồng lao động số M221201.03 để xác định việc Công ty Viestones cho bà Hằng chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 29/12/2023 là đúng pháp luật, nghĩa là phải đánh giá hợp đồng đồng này có hiệu lực. Tại cấp phúc thẩm, người đại diện của bị đơn vẫn xác định Hợp đồng lao động số M221201.03 là hợp đồng duy nhất có hiệu lực và không yêu cầu tuyên vô hiệu hay hủy bỏ hợp đồng này. Do đó, mặc dù bị đơn không kháng cáo nhưng vẫn cần ghi lại nội dung tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn mới phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[10] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hướng giải quyết vụ án không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên kết quả xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng cần sửa lại cách tuyên án phù hợp với phần nhận định của bản án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[11] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
12
Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019; các Điều 117, 121, 122, 124 và 126 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng; Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng đối với bị đơn Công ty Cổ phần Viestones về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương”.
-
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần Viestones đối với nguyên đơn bà Chu Thị Thu Hằng về việc “Tranh chấp về yêu cầu hủy văn bản, hợp đồng lao động”.
- + Tuyên bố Hợp đồng lao động số 001NS/2023-HĐLĐ/VT ngày 02/01/2023 và Hợp đồng lao động số 002NSVT/2023-HĐLĐ/VT ngày 04/9/2023 là vô hiệu.
- + Tuyên bố Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 006/2023-QĐTV ngày 23/12/2023 và Quyết định số 008/2023-QĐTV ngày 25/12/2023 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Chu Thị Thu Hằng do ông Ding Hai Hui, Giám đốc Công ty Cổ phần Viestones ký là vô hiệu.
- - Về chi phí giám định: Bà Chu Thị Thu Hằng có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty Cổ phần Viestones số tiền 1.520.000 đồng.
-
- Về án phí sơ thẩm:
- + Bà Chu Thị Thu Hằng được miễn nộp án phí lao động sơ thẩm về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- + Bà Chu Thị Thu Hằng phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp tiền lương.
- + Công ty Cổ phần Viestones không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền 1.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006139 ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí phúc thẩm: Bà Chu Thị Thu Hằng được miễn án phí.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nguyễn Công Lực |
13
Bản án số 14/2026/LĐ-PT ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương
- Số bản án: 14/2026/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương
