Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HS-ST

Ngày: 03-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Văn N, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1985, tại phường C, tỉnh Bắc Ninh; Tên gọi khác: Không; Căn cước công dân: 024085001977.

Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường C, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Chu Văn H và bà Vũ Thị C; Có vợ là Dương Thị C1 và 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 126/QĐ-XPHC ngày 21/8/2021 của Trưởng Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang cũ đã xử phạt Chu Văn N về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng. Chu Văn N đã chấp hành xong ngày 17/9/2021.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2025 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B – Phân trại tạm giam L1 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố số I, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
    Nơi làm việc: Phòng C5 Công an tỉnh B.
  2. Chị Dương Thị C1, sinh năm 1985 (có mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1991 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
    Nơi làm việc: Công an phường C, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Ông Dương Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Ông Nguyễn Đức C3, sinh năm 1968 (vắng mặt),
    Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
  4. Ông Phan Văn C4, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
  5. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Kế hoạch số 1662/HK-CAT-PA04 ngày 19/11/2025 của Công an tỉnh B và Phương án số 28/PA-CAPC ngày 01/12/2025 của Công an phường C về việc đảm bảo an ninh, trật tự Lễ hội trái cây tỉnh Bắc Ninh năm 2025 được tổ chức tại quảng trường C, tỉnh Bắc Ninh thì Đại úy Nguyễn Duy K là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B được phân công chốt tại đường đôi khu ngã tư shop house với nhiệm vụ bảo đảm an toàn quá trình tổ chức lễ hội (từ ngày 05/12/2025 đến ngày 10/12/2025), không để xảy ra hoạt động khủng bố, phá hoại, gây mất an ninh trật tự, cháy nổ, ùn tắc, tai nạn giao thông nghiêm trọng.

Chiều ngày 05/12/2025, Chu Văn N đi Lễ hội trái cây tỉnh Bắc Ninh và đi uống rượu với một số người bạn tại tổ dân phố T, phường C, tỉnh Bắc Ninh đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N tiếp tục quay lại lễ hội chơi tại quảng trường. Khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ một mình về từ quảng trường Chũ về đi theo hướng đi ngã tư đèn xanh đèn đỏ thuộc tổ dân phố T, phường C, tỉnh Bắc Ninh để bắt taxi về nhà. Khi gần đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ thì Năm gặp cháu Đỗ Phạm Khánh L đang đi bộ phía trước thì N có hành vi trêu ghẹo và hỏi đường cháu L. L chạy đến chỗ 02 đồng chí Công an cách đó khoảng 50 mét phía trước là ông Nguyễn Duy K và ông Nguyễn Văn C2 (là Cán bộ Công an phường Chũ, tỉnh Bắc Ninh) đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự lực lượng an ninh trật tự cơ sở phường Chủ là ông Dương Văn T1, ông Nguyễn Đức C3, ông Phan Văn C4 để trình bày việc bị Chu Văn N trêu ghẹo. Thấy vậy. Năm đi theo đến gần L trợn mắt lên và nói với L “Tao đã làm gì mày chưa?”. Thấy Năm có biểu hiện đã sử dụng rượu bia. ông K đứng ra can ngăn việc Năm dọa cháu L và nhắc nhở thì N có hành vi chống đối dí sát gần mặt ông K chửi “Địt cụ mày” thì ông K đẩy ra, thì N tiếp tục chửi “Địt mẹ mày”. Lúc này đồng chí K có hô lên “Mọi người chứng kiến nhé”. Sau đó, N dùng tay phải đấm mạnh 01 phát vào vùng cổ và quai hàm bên phải của ông K khiến ông K ngã xuống đất bất tỉnh, đồng thời Năm vừa đấm vừa chửi “Địt mẹ mày”. Sau khi xảy ra vụ việc, Chu Văn N bỏ chạy thì bị lực lượng công an khống chế lập biên bản bắt quả tang. Ông Nguyễn Duy K được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế L2, tỉnh Bắc Ninh điều trị, vùng cổ bên phải có vùng sưng nề đỏ kích thước (10x15)cm; đến ngày 09/12/2025, ông K ra viện.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy ngày 05/12/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định: “Chu Văn N âm tính với các chất ma túy trên que test. Nồng độ cồn trong hơi thở của Chu Văn N là 0.931mg/l”. Đồng thời tiến hành thu giữ mẫu móng tay và 01 (một) chiếc quần dài màu xanh phía trên ống quần cạnh đùi hai bên có sọc kẻ màu trắng cùng 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu xanh hai vai áo có đường sọc kẻ màu trắng của Chu Văn N. Thu giữ 01 (một) chiếc quần bò dài màu xanh của cháu Đỗ Phạm Khánh L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành trích xuất camera an ninh tại ngã tư đèn xanh đỏ. Ngày 13/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B mở video cho Năm xem, Năm xác định người đàn ông trong video mặc áo màu xanh là Năm có hành vi chửi, du đẩy ông Nguyễn Duy K.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B, kết luận: “Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Duy K tại thời điểm giám định là: 1%.”

Tại bản Kết luận giám định ADN số HT788.25/PY-XNSH ngày 09/12/2025 của Viện Pháp y Quân đội C6 xác định: “Không phát hiện thấy ADN nhiễm sắc thể Y tử mẫu HT788.25_1. Không phân tích được ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu HT788.25_2.”

Tại Biên bản xác định hiện trường ngày 11/01/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định: Hiện trường tại đường nội thị thuộc tổ dân phố T, phường C, tỉnh Bắc Ninh, thuộc đoạn đường nối từ ngã tư bờ hồ Thanh niên hướng đi trường THPT C7. Đoạn đường được phân chia thành hai làn đường riêng biệt. Tại thời điểm xảy ra vụ việc, đoạn đường đang bị cấm phương tiện di chuyển để phục vụ lễ hội trái cây tỉnh Bắc Ninh năm 2025. Nơi xảy ra vụ việc tại khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ, phía sau hội trường UBND huyện L cũ (nay là UBND phường C).

Ngày 15/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý tài sản đồ vật tài liệu, trả lại cháu Đỗ Phạm Khánh L 01 (một) chiếc quần bò dài màu xanh.

Ngày 25/12/2025, chị Dương Thị C1 (là vợ của Chu Văn N), đã đến phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Bắc Ninh nộp số tiền 30.200.000 đồng để bồi thường cho ông Nguyễn Duy K.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKSKV5 ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Chu Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn N khai nhận đúng như nội dung bản kết luận điều tra và Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn truy tố bị cáo. Do bản thân đã sử dụng rượu bia trước đó nên trong lúc xô đẩy ông K, bị cáo đã nóng giận, không làm chủ bản thân và đấm vào vùng cổ bên phải của ông K. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị C1 trình bày đã tự nguyện nộp số tiền 30.200.000 đồng tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Bắc Ninh để bồi thường cho ông Nguyễn Duy K và án phí thay cho bị cáo. Chị đề nghị trả lại số tiền này cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo trả lại chị số tiền này. Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của những người vắng mặt, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai này.

* Tại phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, tính chất vụ án và giữ nguyên Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s, khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Văn N từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 06/12/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo Chu Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị C1 không có ý kiến tranh luận.

* Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại từ đầu, sớm trở về với gia đình, xã hội, trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tòa án thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo như nội dung Quyết định truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 22 giờ 00 phút ngày 05/12/2025, Chu Văn N đã có hành vi chống đối và đánh gây thương tích cho ông Nguyễn Duy K là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B, làm ông K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Chu Văn N là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Chu Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước về quản lý hành chính, được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng Nhân dân. Do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, Tòa án cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Chu Văn N có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Văn N phạm tội có tính chất côn đồ nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Sau khi đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Tòa án thấy bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa tội phạm chung cho xã hội; đồng thời để nâng cao tính pháp chế trong quản lý của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo để bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 330 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp gì khác nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[10] Về những vấn đề khác: Đối với hành vi như lời khai của cháu Đỗ Phạm Khánh L về việc Chu Văn N đã dùng tay vỗ vào mông cháu L. Quá trình điều tra xác định không đủ căn cứ để xác định Chu Văn N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc quần dài màu xanh và 01 áo khoác dài tay màu xanh là tài sản của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Do ông Nguyễn Duy K không yêu cầu bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với số tiền 30.200.000 đồng mà chị Dương Thị C1 đã nộp thay cho bị cáo tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Bắc Ninh thì cần trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ lại 200.000 đồng để đảm bảo thi hành về án phí hình sự sơ thẩm.

[13] Về án phí: Bị cáo Chu Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 136; Điều 292, Điều 293, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Văn N 07 (bảy) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 06/12/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/02/2026) để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc quần màu xanh, cũ đã qua sử dụng, phía trên ống quần cạnh đùi hai bên có sọc kẻ màu trắng; 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu xanh (Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng số 34 ngày 28 tháng 01 năm 2026 giữa Công an tỉnh B và phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Bắc Ninh).

- Trả lại bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và tạm giữ lại 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án trong tổng số tiền 30.200.000 đồng (Ba mươi triệu, hai trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số 0001135 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS, phòng Hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về hình sự (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 14/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 22 giờ 00 phút ngày 05/12/2025, Chu Văn N đã có hành vi chống đối và đánh gây thương tích cho ông Nguyễn Duy K là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B, làm ông K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger