Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HS-PT

Ngày 12 tháng 01 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Châu Loan - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lê Công T - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 12 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 244/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Quang P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Quang P, sinh ngày 15/02/1982 tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi cư trú: Số A đường số 1, phường B, quận B (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh (Giám đốc Công ty TNHH T2); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 (chết) và bà Phạm Thị B; hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Nguyễn Thị Tuyết M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Ngày 08/11/2024; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang P: Bà Lê Thị Hồng X, là Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị và không liên quan tới kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (viết tắt là Công ty T2) được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 16/4/2012, vốn điều lệ 1.000.000.000 đồng, địa chỉ trụ sở số B, Đường số F, cư xá Đ, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; ngành nghề kinh doanh chính là giao nhận hàng hóa, buôn bán văn phòng phẩm. Có 05 thành viên góp vốn gồm: Nguyễn Quang P góp vốn 400.000.000 đồng (tương ứng tỷ lệ 40%), các thành viên còn lại gồm Nguyễn Văn V, Nguyễn Quang T1, Võ Thanh Đ và Nguyễn Thanh L mỗi người góp vốn 150.000.000 đồng (tương ứng tỷ lệ 15%); Nguyễn Quang P là Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật.

Cuối năm 2021, do khẩu trang y tế, đặc biệt là khẩu trang hiệu Sky Light là mặt hàng bán chạy trên thị trường nên Nguyễn Quang P đã lên mạng internet tham khảo giá bán của một số đơn vị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi liên hệ và thống nhất giá cả mua bán với Công ty S, địa chỉ tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, P đã đăng thông tin bán khẩu trang Sky Light trên mạng xã hội kèm theo hình ảnh, với giá chênh lệch cao hơn giá gốc của Công ty S để kiếm lời.

Quá trình đăng thông tin bán khẩu trang trên mạng xã hội, có khách hàng xưng tên là R, sinh sống tại Campuchia hỏi mua sản phẩm khẩu trang mà P đang rao bán. Sau khi thỏa thuận về giá cả và số lượng, P cung cấp địa chỉ của Công ty S để R chủ động bố trí người và phương tiện đến nhận hàng, đồng thời thanh toán tiền mặt trực tiếp cho P tại đây. Khi giao nhận hàng hóa, P thanh toán tiền mặt cho Công ty S, Công ty S xuất phiếu xuất kho ghi tên người nhận hàng là P.

Từ cuối năm 2021 đến trước ngày 25/3/2022, P đã bán cho R 03 đơn hàng khẩu trang y tế. Hai lần bán đầu tiên, Rana thanh toán tiền mặt đầy đủ cho P. Đến lô hàng thứ ba, R viện lý do gặp khó khăn về tài chính nên chưa có tiền thanh toán cho P, R cho P biết mình có hơn 20 thùng kit test C tương đương 9.455 bộ kit test Covid-19 các loại, trị giá 230.000.000 đồng; R chuyển cho P để bán kiếm lời, khấu trừ vào tiền nợ lô hàng khẩu trang mà R mua của P và được P đồng ý. Ngày 19/3/2022, R cho người vận chuyển bằng xe tải giao 9.455 bộ C trên cho P tại số A, đường L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người giao hàng cho P là người Việt Nam, P không biết tên, không biết địa chỉ nơi ở và không nhờ biên số xe tải của người này.

Ngày 25/3/2022, Cục Quản lý thị trường Thành phố H phối hợp cùng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra 02 địa điểm kinh doanh của Công ty T2 tại số A và A đường L, phường P, quận T, phát hiện và tạm giữ 9.455 bộ C kit H và S1 kit Green Spring do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ.

Ngày 01/4/2022, Cục Q có Văn bản số 679/QLTT-NVTH chuyển hồ sơ vụ việc nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Công văn số 8129/BYT-HTTB ngày 21/12/2023, Bộ Y xác nhận: Đến nay, Bộ Y không nhận được hồ sơ đăng ký kit test Covid 19 hoặc hồ sơ đề nghị cấp phép nhập khẩu kit test Covid 19 của Công ty TNHH T2; thời điểm tháng 3/2022, Bộ Y không cấp phép lưu hành tại Việt Nam đối với kit test C 19 Antigen Test kit hiệu H - Guard và Sars-Cov-2 Antigen Rapid Test kit S1 nêu tại Công văn số 639/YC-CSĐT-Đ5 ngày 12/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1876/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố H xác định 9.455 bộ C kit hiệu H - Guard và S1 kit Green Spring có giá tại thời điểm tháng 3/2022 là 962.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang P 05 năm 06 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, bị cáo Nguyễn Quang P kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền thay bằng hình phạt tù có thời hạn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Quang P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang phạt tiền.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào kết quả điều tra và thừa nhận của bị cáo P tại phiên tòa, có cơ sở xác định bị cáo P đã thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm đối với 9.455 bộ C 19 Antigen Test kit hiệu H - Guard và S1 kit Green Spring có giá tại thời điểm tháng 3/2022 là 962.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ xin được áp dụng hình phạt tiền hoặc giảm nhẹ hình phạt thì thấy rằng, toàn bộ 9.455 bộ C đã bị thu giữ nên hậu quả chưa xảy ra. Căn cứ theo hướng dẫn tại điểm a khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo là thiếu sót. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 và Điều 54 để xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Quang P trình bày: Bị cáo không có ý định mua bán lô kit test vì bị cáo biết đây là mặt hàng rất khó tiêu thụ, chỉ sau khi bị khởi tố bị cáo mới biết mình phạm tội; toàn bộ số kit test Covid 19 chưa được bán ra thị trường và đã bị tiêu hủy nên không ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bản thân bị bệnh viêm gan B, viêm đốt sống lưng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chuyển cho bị cáo từ hình phạt tù có thời hạn sang phạt tiền hoặc giảm nhẹ hình phạt tối đa để bị cáo sớm trở về với gia đình và tiếp tục đóng góp công sức cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Quang P nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin được phạt tiền hoặc được giảm án bằng thời hạn tạm giam để trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang P làm trong thời hạn luật định, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã được Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[3.1] Thông qua mạng xã hội, bị cáo Nguyễn Quang P quen biết người tên là R (sinh sống tại Campuchia). Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2021 đến trước ngày 25/3/2022, bị cáo P đã bán cho R 03 đơn hàng khẩu trang y tế. Hai lần bán đầu tiên, R thanh toán đầy đủ tiền mua hàng cho bị cáo P. Ở lần bán thứ 3, lấy lý do khó khăn về tài chính chưa có tiền để thanh toán, R cho bị cáo P biết mình có hơn 20 thùng kit test Covid 19, tương đương với 9.455 bộ kit test, trị giá 230.000.000 đồng; R đồng ý giao số hàng này cho bị cáo P bán kiếm lời, đồng thời cấn trừ vào số tiền mua khẩu trang Rana còn nợ và được bị cáo P đồng ý. Ngày 19/3/2022, R cho người vận chuyển giao cho bị cáo P 9.455 bộ kit test nêu trên. Ngày 25/3/2022, Cục Q phối hợp với Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ 9.455 bộ kit test.

Tại Công văn số 8129/BYT-HTTB ngày 21/12/2023, Bộ Y xác nhận: Đến nay, Bộ Y không nhận được hồ sơ đăng ký kit test Covid 19 hoặc hồ sơ đề nghị cấp phép nhập khẩu kit test Covid 19 của Công ty TNHH T2; thời điểm tháng 3/2022, Bộ Y không cấp phép lưu hành tại Việt Nam đối với kit test C 19 Antigen Test kit hiệu H - Guard và Sars Cov 2 Antigen Rapid Test kit G nêu tại Công văn số 639/YC-CSKT-Đ5 ngày 12/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1876/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố H xác định 975 bộ C Antigen T kit hiệu H - Guard và 8.480 bộ S1 kit Green Spring có giá tại thời điểm tháng 3/2022 là 962.460.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo P thừa nhận việc mua bán số kit test Covid 19 nêu trên để kiếm lời. Lời khai nhận tội của bị cáo P phù hợp với kết quả điều tra, vật chứng bị thu giữ. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi mua bán 9.455 bộ C 19 chưa được phép lưu hành tại Việt Nam do bị cáo P thực hiện đã thỏa mãn tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo P về tội danh và điều khoản trên là đúng pháp luật.

[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ kháng cáo xin được chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt tiền hoặc xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù là nặng; số kit test Covid 19 chưa được bán ra thị trường và đã bị tiêu hủy nên không ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bản thân bị bệnh viêm gan B, viêm đốt sống lưng.

[3.3] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là chế độ quản lý, sản xuất, kinh doanh các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông hoặc cấm sử dụng; xâm phạm quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với một số hàng hóa đặc biệt và gây mất ổn định thị trường, nhất là hàng cấm trong vụ án này lại là những bộ C 19 chưa được kiểm nghiệm, cấp phép, có nguy cơ gây hại tới sức khỏe, tính mạng của Nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vẫn thực hiện, do đó cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[3.4] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; có nhân thân tốt; là lao động chính trong gia đình nên Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, toàn bộ 9.455 bộ C đã bị Cơ quan chức năng thu giữ trước khi lưu thông trên thị trường nên thiệt hại về vật chất hay phi vật chất đã không xảy ra trên thực tế; tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng vì thế mà bị hạn chế đáng kể; đồng thời cho tới thời điểm xét xử, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng không còn nữa. Vì vậy, trường hợp này, bị cáo P đủ điều kiện được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại điểm a khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo là thiếu sót.

[3.5] Do không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 nên bị cáo P đủ điều kiện được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nêu trên. Mặc dù được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực y tế mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang quan tâm hiện nay thì việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng cần phải xem xét tới nhân thân, thái độ, tính chất nguy hiểm vì hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt cho xã hội.

[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh; giảm một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Quang P.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Quang P không phải chịu.

[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang P; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Áp dụng: Điểm i khoản 2 Điều 190, điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang P: 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quang P 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang P không phải chịu.

- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - Viện CT và KSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Thi hành án Dân sự TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Bị cáo bị tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP, NTCL.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2026/HS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 14/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang P; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 450/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger