Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - AN GIANG

Bản án số: 137/2025/DS-ST

Ngày: 29 - 10 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng; Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 851/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 258/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • - Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1964;
  • - Bà Lê Thị H, sinh năm 1968;

Cùng cư trú: Tổ B, ấp H, xã P, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông D, bà H: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1987;

Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, phường L, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1946;
  • - Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1980;
  • - Bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1), sinh năm 1981;

Cùng cư trú: Tổ D, ấp H, xã P, tỉnh An Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Đoàn Văn K, sinh năm 1986;
  • - Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1987;
  • - Bà Đoàn Thị Trúc P, sinh năm 1989;

Cùng cư trú: Ấp H, xã P, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà N có mặt; các ông, bà B, M, H1 đều vắng mặt; các ông, bà K, T, P vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Do quen biết, nên vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) đã nhiều lần vay tiền và vàng của vợ chồng ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H và các con của ông D, bà H là: Đoàn Văn K, Đoàn Thị T, Đoàn Thị Trúc P cụ thể như sau:

  • - Vay của bà H: Ngày 12 tháng 01 năm 2012: mượn 01 lắc vàng 18 kara trọng lượng 04 chỉ 01 phần, trị giá 9.000.000 đồng. Ngày 07 tháng 11 năm 2011: vay 5.000.000 đồng.
  • - Vay của ông K: Ngày 15 tháng 11 năm 20211: vay 20.000.000 đồng.
  • - Vay của bà T: Ngày 15 tháng 11 năm 2011: mượn 05 chỉ vàng 24kara. Ngày 11 tháng 3 năm 2012: mượn 01 dây chuyền vàng 18kara.
  • - Vay của bà P: Ngày 26 tháng 11 năm 2011: vay 25.000.000 đồng.

Khi vay các bên không có thỏa thuận trả lãi và thời hạn trả nợ. Vợ chồng ông M, bà H1 có viết Giấy nhận nợ, cam kết đến tháng 02 âm lịch năm 2013 sẽ hoàn trả đủ số nợ và tiền lãi theo thỏa thuận riêng, nhưng thực tế hai bên không có thỏa thuận gì về tiền lãi. Đến tháng 02 âm lịch năm 2013, vợ chồng ông M và bà H1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Sau nhiều lần gia đình ông D, bà H yêu cầu trả nợ mà không được, thì ông D, bà H và các con có kiện ông M, bà H1 ra ban ấp Hòa Tây A giải quyết vào ngày 10 tháng 12 năm 2013. Khi ban ấp Hòa Tây A tiến hành hòa giải, ông Nguyễn Văn B là cha của ông M có cam kết trả nợ thay cho ông M, bà H1: ông B đồng ý giao phần đất 10.000m² tại xã P của ông B cho ông D thuê trong thời hạn là 02 năm với giá thuê 48.000.000 đồng/năm, tổng cộng là 96.000.000 đồng. Và có khấu trừ 20.000.000 đồng trong tiền thuê đất vào khoản nợ của vợ chồng M, H1; nên số tiền và vàng còn nợ lại là 62.700.000 đồng cộng với 02 chỉ vàng 18kara. Lúc đó vợ chồng ông D, bà H và các con đồng ý cho ông M, bà H1, ông B trả nợ dần. Nhưng từ đó họ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến nay.

Hiện nay, các ông bà K, T, P đã chuyển giao toàn bộ quyền yêu cầu trả nợ đối với số nợ nói trên của họ cho ông D, bà H. Ông D, bà H khởi kiện ông M, bà H1, ông B phải trả 62.700.000 đồng và 02 chỉ vàng 18kara, yêu cầu tính lãi theo lãi suất ngân hàng từ ngày 09 tháng 7 năm 2015 (ngày khấu trừ tiền thuê đất 20.000.000 đồng vào tiền nợ để chốt nợ lại là còn 62.700.000 đồng và 02 chỉ vàng 18kara).

Tại phiên hòa giải ngày 18 tháng 9 năm 2025, ông D và bà H xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau: yêu cầu ông M, bà H1, ông B trả cho ông D, bà H số tiền 62.700.000 đồng và 02 chỉ vàng 18kara, yêu cầu tính lãi chậm trả của 62.700.000 đồng với mức lãi suất theo quy định của pháp luật, từ ngày 09 tháng 7 năm 2015 cho đến khi trả nợ xong, không yêu cầu tính lãi với số vàng còn nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M và bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1): Không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa: Bà N đại diện nguyên đơn trình bày: Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông B, ông M, bà H1 đều vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ. Các ông bà K, T, P đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, không cung cấp ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả tiền vốn, vàng và lãi đã cho vay. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Nguyên đơn căn cứ vào Giấy nhận nợ (không ghi ngày tháng), Biên bản hòa giải ngày 10 tháng 12 năm 2013 và Biên bản hòa giải ngày 02 tháng 8 năm 2017 để xác định việc ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H và các con là ông Đoàn Văn K, bà Đoàn Thị T, bà Đoàn Thị Trúc P có cho ông M, bà H1 vay tiền và vàng và cam kết “tháng 02 Âm lịch năm 2013 sẽ hoàn trả đủ số nợ và tiền lãi theo thỏa thuận riêng”. Các bên không có thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất cho vay. Tính đến ngày 09 tháng 7 năm 2015 thì các bị đơn còn nợ lại số tiền tổng cộng là 62.700.000 đồng và 02 chỉ vàng 18kara. Do ông B, ông M, bà H1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ năm 2015 cho đến nay là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông B, ông M, bà H1 phải trả tiền nợ gốc và tiền lãi, trả vàng. Về phía bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ về giao dịch vay mượn tài sản giữa họ với ông D, bà H, ông K, bà T, bà P, không phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, giao dịch vay tài sản giữa các bên đã được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên là giao dịch hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[3.2] Theo Giấy nhận nợ (không ghi ngày tháng) và lời khai của ông D, bà H thì số nợ nêu trên xuất phát từ: Khoản nợ của ông D, bà H là 5.000.000 đồng và 04 chỉ 01 phân vàng 18kara. Khoản nợ của ông K là 20.000.000 đồng. Khoản nợ của bà T là 05 chỉ vàng 24kara, 01 dây chuyền vàng 18kara. Khoản nợ của bà Trúc P là 25.000.000 đồng. Các bên thực hiện quy đổi vàng sang tiền Việt Nam Đồng, thực hiện cấn trừ nợ vào tiền thuê đất, đến ngày 09 tháng 7 năm 2015 thì chốt lại số tiền còn nợ là 62.700.000 đồng và số vàng còn nợ là 02 chỉ vàng loại 18kara. Các ông bà K, T, P đã có văn bản thỏa thuận chuyển giao quyền yêu cầu đối với tổng số nợ nêu trên cho ông D, bà H vào ngày 10 tháng 10 năm 2024. Vì vậy, căn cứ Điều 365 Bộ luật Dân sự, ông D, bà H có quyền yêu cầu các bị đơn trả nợ cho ông D, bà H.

[3.3] Về nghĩa vụ trả nợ của ông B, xét thấy: Người vay là ông M, bà H1, nhưng khi họ không trả được nợ thì ông B lại đồng ý trả nợ thay ông M, bà H1 (theo Biên bản hòa giải ngày 10 tháng 12 năm 2013). Và để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông B đã đồng ý trừ 20.000.000 đồng từ tiền ông B cho ông D thuê đất vào tổng số nợ. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc ông B có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ.

[3.3] Đối với yêu cầu trả lãi, xét thấy: Theo nguyên đơn trình bày và các tài liệu, chứng cứ thể hiện các bên cho vay những không thỏa thuận về lãi suất cho vay. Thời gian đầu cho vay không có thời hạn, chỉ từ cuối năm 2012 ông M, bà H1 mới cam kết thời gian trả nợ là “tháng 02 Âm lịch năm 2013 sẽ hoàn trả đủ số nợ và tiền lãi theo thỏa thuận riêng”. Hết thời hạn này các bị đơn vẫn không thực hiện trả nợ, đến ngày 09 tháng 7 năm 2015 thì các bên thực hiện cấn trừ 20.000.000 đồng từ tiền thuê đất để trả nợ. Vì vậy, khi bên vay không trả nợ, chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên vay có nghĩa vụ trả cả tiền vốn và tiền lãi cho bên cho vay theo quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự. Khi khởi kiện bổ sung, các nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất của ngân hàng, nhưng sau đó chỉ yêu cầu trả lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận. Cụ thể số tiền lãi các bị đơn phải trả tính từ ngày 09 tháng 7 năm 2015 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 29 tháng 10 năm 2025 là: 62.700.000 đồng x 10%/năm x 3765 ngày = 64.675.497 đồng.

[3.4] Đối với số vàng cho vay, các nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi chậm thanh toán là phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận để đình chỉ giải quyết, xét xử.

[3.5] Tại thời điểm các bên thực hiện giao dịch vay mượn vàng và thời điểm xét xử sơ thẩm thì khoản 4 Điều 10 Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ có hiệu lực pháp luật quy định: Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán là hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “….. nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, tại khoản 2 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định “Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nguyên đơn yêu cầu trả lại giá trị của 02 chỉ vàng 18kara tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Ý kiến này của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật, và là sự tự nguyện của nguyên đơn, vì vậy có cơ sở để chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ giá vàng loại vàng 18kara của Công ty cổ phần V (PNJ), Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V1 (SJC), Công ty cổ phần T1 công bố công khai tại website của các công ty này vào thời điểm xét xử sơ thẩm để xác định giá vàng trung bình của vàng mua vào và bán ra loại 18kara là 10.457.867 đồng. Từ đó xác định giá trị của 02 chỉ vàng 18kara tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 20.915.734 đồng.

[3.6] Từ những nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số nợ gốc là 62.700.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 64.675.497 đồng, giá trị của 02 chỉ vàng loại 18kara tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 20.915.734 đồng.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Các bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 217, 227, 228, 235, 244, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Các Điều 357, 365, 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự.
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H đối với ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1);

  • - Buộc ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H số tiền là: 127.375.497 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: nợ gốc là 62.700.000 đồng (sáu mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng), nợ lãi tạm tính đến ngày 29 tháng 10 năm 2025 là 64.675.497 đồng (sáu mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  • - Buộc ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H giá trị của 02 chỉ vàng loại 18kara tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 20.915.734 đồng (hai mươi triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng).

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H về việc buộc ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) trả lãi đối với số vàng còn nợ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Đoàn Văn D, bà Lê Thị H không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.567.500 theo Biên lai thu số 0021446 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (cũ).
  • - Ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn M, bà Đoàn Thị H1 (Đoàn Thị Mỹ H1) có nghĩa vụ nộp án phí là 7.414.562 đồng (bảy triệu bốn trăm mười bốn nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND t. An Giang;
  • - VKSND KV10 - An Giang;
  • - Phòng THADS KV10 - An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2025/DS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 137/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger