TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 136/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2205
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Hồng Việt.
Bà Trần Kim Thoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa ngày 19 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1996; nơi thường trú: Ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Hồng Q, sinh năm 1987; nơi thường trú: Ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ; địa chỉ tạm trú: 66/3 khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc nguyên đơn trình bày:
Bà Đỗ Thị N và ông Trần Hồng Q tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2018, cấp ngày 23/02/2018.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân tính tình không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Hồng Nhã Á, sinh ngày 12/01/2017 và Trần Hồng Nhã Â, sinh ngày 09/11/2018. Khi Tòa án giải quyết ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Trần Hồng Nhã Á và cháu Trần Hồng Nhã Â.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Hồng Q đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Q không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và cung cấp các tin nhắn giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện bị đơn đã nhận được các thông báo, triệu tập của Tòa án nhưng bị đơn không đến Tòa. Bị đơn được triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm. Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn cư trú tại phường A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hồng Q và bà Đỗ Thị N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, Thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2018, cấp ngày 23/02/2018 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[2.2] Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Nguyên khai vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, sự bất đồng trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân vợ chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong cuộc sống thì phải cùng nhau hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Q rạn nứt, sự thiếu quan tâm lâu ngày làm suy giảm niềm tin giữa vợ chồng, khiến mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc không còn khả năng đạt được. Điều này còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến con cái, môi trường nuôi dạy thiếu gắn kết, mâu thuẫn kéo dài có thể gây tổn hại về tinh thần và phát triển của các con. Bà N xác định vợ chồng đã không còn chung sống, ly thân hơn 01 năm, không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đồng thời, quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã triệu tập ông Q tham gia làm việc, hòa giải, qua các thông tin bà N cung cấp thể hiện ông Q nhận các văn bản của Tòa án, biết yêu cầu của bà nhưng ông Q vẫn không đến Tòa, không có bất kỳ ý kiến đưa ra về việc mong muốn gia đình đoàn tụ. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị N.
[2.3] Về con chung: Bà Nguyên khai bà và ông Q có 02 con chung tên Trần Hồng Nhã Á, sinh ngày 12/01/2017 và Trần Hồng Nhã Â, sinh ngày 09/11/2018. Bà N mong muốn được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung.
Xét, hiện tại bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông Q không có ý kiến gì khác; các cháu còn nhỏ cần được quan tâm và nhằm tạo điều kiện cho các cháu gần gũi nhau, không xáo trộn tình cảm và ổn định cuộc sống của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung cho bà N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[3] .Từ phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Tòa chấp nhận.
[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị N về việc "Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con" đối với bị đơn ông Trần Hồng Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị N được ly hôn với ông Trần Hồng Q.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 16/2018, cấp ngày 23/02/2018 do Ủy ban nhân dân phường T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, Thành phố Cần Thơ) cấp cho bà N và ông Q không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Hồng Nhã Á, sinh ngày 12/01/2017 và Trần Hồng Nhã Â, sinh ngày 09/11/2018 cho bà Đỗ Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này nếu có căn cứ.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Đỗ Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004829 ngày 22/07/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa H |
Bản án số 136/2025/HNGĐ-ST ngày 23/09/2205 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 136/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2205
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÀ NGUYÊN XIN LY HÔN VỚI ÔNG QUÝ
