Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 13/2026/HS-PT

Ngày: 14-01-2026

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Phan Thanh Hải

Ông Phùng Văn Định

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2025/TLPT-HS ngày 18/11/2025 đối với các bị cáo Lê Thị M và Nguyễn Thị M1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Thị M, sinh ngày 01/01/1964 tại huyện T, tỉnh Cà Mau; số CCCD: 096164009357, cấp ngày: 03/3/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C3; nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); chồng tên Hà Văn R1 (đã chết) và có 04 người con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (tại Quyết định số 64/QĐ-XPHC ngày 02/4/2024 của Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, xử phạt bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, nộp phạt xong ngày 03/5/2024). Bị cáo tại ngoại có mặt.
  2. Nguyễn Thị M1, sinh ngày 01/01/1963 tại huyện T, tỉnh Cà Mau; số CCCD: 096163005608, cấp ngày: 12/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C3; nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Trần Thị Y (đã chết); chồng Văn Công N và có 07 người con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (tại Quyết định số 59/QĐ-XPHC ngày 02/4/2024 của Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, nộp phạt xong ngày 03/5/2024). Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không được Tòa án triệu tập), gồm: Ông Lê Hoàng K, bà Nguyễn Thị Hồng C1, ông Trần Văn G.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Kim Chan Đa R2 của Công ty TNHH L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Luật sư có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 15/11/2024, Lê Thị M, Nguyễn Thị M1 đến nhà của bà Nguyễn Thị Hồng C1 ở cùng ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, để chơi đánh bài ăn thua bằng tiền. Khi đến nhà của bà C1 thì có Trần Văn G, Lê Hoàng K, Đinh Hoàng N1, Lê Thị L và Lê Kim C2 đang chơi đánh bài ăn thua bằng tiền. Mừng và M1 cũng vào tham gia chơi. Hình thức chơi đánh bài binh Ấn Độ 6 lá, loại bài tây 52 lá có người thủ cái, mức tiền cược mỗi ván bài từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.250.000 đồng, thu giữ số tiền trên người các đối tượng gồm: Khởi 380.000 đồng, M 200.000 đồng, M1 200.000 đồng, G 10.000 đồng, C2 400.000 đồng và 04 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận: Nguyễn Thị Hồng C1 là người tổ chức cho các đối tượng đánh bài ăn tiền tại nhà của C1 để thu tiền xâu; tại thời điểm bị bắt quả tang có những người trực tiếp tham gia gồm Đinh Hoàng N1 là thủ cái, M, Lê Hoàng K và G là những người ngồi tụ; những người tham gia ké thạnh gồm có: Mỳ, L ké thạnh tụ bài của M, Lê Kim C2 ké thạnh tụ bài của G.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 22/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 01 và ngày 06/8/2025, bị cáo M và bị cáo M1 kháng cáo cùng nội dung xin được cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau về phần hình phạt.
  • Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và là người cao tuổi, nên đề nghị xem xét cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm cho các bị cáo, trả lại cho các bị cáo số tiền đã thu giữ.
  • Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Thị M và Nguyễn Thị M1 thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Các bị cáo M và M1 đều có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa, nhưng vào ngày 15/11/2024, các bị cáo lại tiếp tục tham gia đánh bài binh Ấn Độ 6 lá được thua bằng tiền tại nhà của bà Nguyễn Thị Hồng C1 thuộc ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và bị Công an xã T bắt quả tang vào lúc 13 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ tại chiếu bạc 1.250.000 đồng. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau đã xét xử các bị cáo M và M1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  2. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đánh bạc trái pháp luật hình sự, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo quy định.
  3. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thân nhân các bị cáo có người có công với cách mạng. Từ đó, xử phạt mỗi bị cáo 04 tháng tù (mức dưới khung hình phạt) là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo, với lý do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mắc nhiều bệnh và đang phải uống thuốc điều trị mỗi ngày. Tuy nhiên, lý do mà các bị cáo kháng cáo không phải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên không làm thay đổi mức hình phạt tù mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với các bị cáo.
  4. Tuy kháng cáo không được chấp nhận, nhưng các bị cáo đều là người cao tuổi, nên được miễn án phí hình sự sơ và phúc thẩm.
  5. Đối với số tiền thu giữ của các bị cáo đã được cấp sơ thẩm xử lý là đúng. Yêu cầu trả lại số tiền này là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu của các bị cáo.
  6. Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận; Ý kiến của Luật sư bào chữa cho các bị cáo được chấp nhận một phần.
  7. Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị M và Nguyễn Thị M1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau về phần hình phạt.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị M 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M2 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm cho các bị cáo.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 2-CM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-CM;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2-CM;
  • - Công an xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Trọng Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2026/HS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 13/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger