Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 1 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 14 tháng 11 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.
  • - Đại diện VKSND khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị B, sinh năm 1978 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Lê Công H (chết) và bà Lê Thị T; chồng: Lê Hữu T1 và có 02 con sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 15/11/2015 đến ngày 17/11/2025 huỷ bỏ quyết định tạm giữ; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  • - Bị hại: Chị Lê Thị Mai K, sinh năm 1994 (vắng)
  • Trú tại: Phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 57 phút ngày 15/10/2025, Lê Thị B đi bộ từ nhà đến chợ R, thuộc phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi vào chợ, B đi đến gần quầy hàng bán rau củ quả của chị Đỗ Thị T2 quan sát thấy chị Lê Thị Mai K, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa, đang mua hàng, rút tiền từ túi áo chống nắng bên phải, B nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đi lại gần, đứng phía sau bên phải chị K đã dùng tay trái móc vào túi áo chống nắng bên phải chị K lấy đi 4.600.000 đồng tiền mặt sau đó nhanh chóng đi bộ ra hướng giữa chợ. Lúc này chị K thò tay vào túi nhưng không thấy tiền, nghi vấn B lấy nên đã đi theo, gọi B lại thì được Tổ công tác của Công an phường Đ phối hợp với ban R kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang B, thu giữ tang vật là số tiền 4.600.000 đồng.

Về xử lý đồ vật, tài liệu, dân sự: Sau khi bắt quả tang, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị K toàn bộ số tiền thu giữ từ B, chị K không có yêu gì về dân sự, chị K đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho B.

Tại Quyết định số: 20/QĐ -VKSKV1 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Thị Bình về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;

Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo từ 09 - 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị công nhận phần dân sự giữa bị hại, bị cáo đã giải quyết xong; đề nghị không áp hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Khoảng 07 giờ 57 phút ngày 15/10/2025, tai chợ R, thuộc phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Phát hiện chị Lê Thị Mai K, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa đang mua hàng, B đi lại gần, đứng phía sau bên phải chị K dùng tay trái móc vào túi áo chống nắng bên phải chị K lấy đi 4.600.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị B có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của VKSND khu vực 1 – Thanh Hoá là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt một cách nhanh nhất rồi mang đi tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, h, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên việc cách ly bị cáo là không cần thiết, mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về phần dân sự: Theo báo cáo của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã nhận đầy đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó cần công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Thị B 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị B cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND khu vực 1 – Thanh Hoá;
  • - Văn phòng điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - VP 06 Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger