|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI Bản án số: 127/2025/HS-ST Ngày: 05-11-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi, bà Nguyễn Thị Thanh Hà (đều là giáo viên nghỉ hưu)
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 05/11/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2025/TLST-HS ngày 22/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 23/10/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 31/3/2007 (khi phạm tội 17 năm, 05 tháng, 25 ngày); CCCD số [...], cấp ngày 13/5/2021; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn D, xã L, huyện C (nay là thôn D, xã Q), Thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết), con bà: Nguyễn Thị P1; Chưa có vợ, con; D chỉ bản số 437 do CO1 - Công an thành phố H lập ngày 27/5/2025; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Chị Phùng Thị T, sinh năm 2005 (đã chết). Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện C (nay là xã T), thành phố Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp cho chị Phùng Thị T: Ông Phùng Đình T1, sinh năm 1983, CCCD số [...], cấp ngày 25/7/2021 (bố đẻ); địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện C (nay là xã T), thành phố Hà Nội. Bà Khả Thị T2, sinh năm 1983, CCCD số [...], cấp ngày 16/9/2021 (mẹ đẻ); bà T2 ủy quyền cho ông T1. Ông T1 có đơn
xin xét xử vắng mặt
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo P là: Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1976 (mẹ đẻ); Trú tại: Thôn D, xã Q, Hà Nội. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn An V, sinh năm 1982, CCCD số [...]. Địa chỉ: SN A, TDP P, thị trấn Q, Hà Nội. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:
Nguyễn Văn P không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định.
Khoảng 09h30' ngày 25/9/2024, Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô BKS: 29Y3-421.02, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn xanh, chở sau chị Phùng Thị T tham gia giao thông trên đường N, thuộc địa phận thôn M, xã M, C, Hà Nội (nay là xã T, thành phố Hà Nội) hướng đường H đi UBND xã H (cả P và T đều không đội mũ bảo hiểm). P điều khiển xe mô tô di chuyển tốc độ nhanh (khoảng 50km/h) đi đến đoạn đường có biển báo nguy hiểm, đoạn đường cong thì mới phát hiện phía trước ngược chiều có 01 chiếc xe ô tô BKS 29H-391.53, nhãn hiệu Ford Ranger, màu sơn trắng, loại xe bán tải, do anh Nguyễn An V điều khiển đi đến. Do không làm chủ tốc độ, không quan sát được phía trước, nên khi phát hiện xe ô tô đi phía trước ngược chiều đến, P giật mình phanh gấp, đánh lái sang phải để tránh xe ô tô, dẫn đến xe mô tô do P điều khiển bị mất lái làm người và xe mô tô đổ rê trước đầu xe ô tô do anh V điều khiển, sau đó trượt văng trên đường, hướng chếch chéo sang lề đường phải, chị T ngồi sau xe mô tô bị ngã đập đầu xuống nền đường nằm bất tỉnh. Anh V đã kịp phát hiện và phanh xe ô tô lại đỗ trên đường, rồi xuống xe cùng với Nguyễn Văn P bế chị T lên xe ô tô, anh V điều khiển xe ô tô chở chị T đến Bệnh viện N cấp cứu rồi điều khiển xe ô tô quay lại hiện trường để giải quyết vụ tai nạn. Do thương tích nặng, chị T lại được chuyển đến Bệnh viện Q cấp cứu và điều trị, đến ngày 04/10/2024 gia đình đưa chị T về nhà rồi tử vong.
* Hậu quả:
- Chị Phùng Thị T bị thương nặng cấp cứu tại Bệnh viện N, sau đó chuyển đến Bệnh viện Q từ ngày 25/9/2024, do thương tích nặng, tiên lượng tử vong cao, đến ngày 03/10/2024, gia đinh xin bệnh viện cho chị T ra viện về nhà. Đến ngày 04/10/2024 thì chị T tử vong tại nhà.
- Xe mô tô bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 12 giờ 10 phút ngày 25/9/2024 do Công an huyện C lập xác định:
- Hiện trường không còn nguyên vẹn, do sau tai nạn, anh V điều khiển xe ô tô BKS 29H-391.53 liên quan đến vụ tai nạn trên đưa nạn nhân T đi cấp cứu, xe mô tô BKS 29Y3-421.02 đã được dựng lên lề đường. Hiện trường thể hiện:
+ Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường cong vòng bên phải theo hướng đường H đi H, đường hai chiều, mặt đường dải nhựa apphan, mặt đường bằng phẳng, chiều rộng mặt đường là 7,65m. Đoạn đường có đặt biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, có vạch kẻ đường đứt đoạn màu vàng, có vạch giảm tốc độ màu vàng nét liền vạch ngang đường. Phần đường bên phải đường N theo hướng H đi đường H có chiều rộng 3,75m.
+ Điểm mốc được xác định là tâm cột đèn chiếu sáng ký hiệu T3CS636 nằm tại lề đường bên phải đường Ntheo hướng đường H đi H. Mép đường bên phải đường Ntheo hướng H đi đường H được xác định là mép đường làm chuẩn. Tất cả các số đo đến mép đường được đo vuông góc đến mép đường làm chuẩn.
+ Dấu vết trên hiện trường:
Xe ô tô con BKS 29H – 391.53 đỗ tự nhiên trên mặt đường N, đầu xe quay hướng đi H, đuôi xe quay hướng đi Hồ Chí Minh. Đo từ tâm đầu trục bánh trước bên trái xe ô tô đến mép đường là 5,78m, đo từ tầm đầu trục bánh sau bên trái xe ô tô đến mép đường là 5,66m. Đo vuông góc từ tâm đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô về hướng H đến tâm cột đèn chiếu sáng là 6,6m.
Xe mô tô BKS 29Y3-421.02 dựng chân chống nghiêng trên mặt đường N. Đầu xe quay hướng H, đuôi xe quay hướng đường H. Đo từ tâm đầu trục bánh trước xe mô tô đến mép đường là 7m, đo từ tâm đầu trục bánh sau xe mô tô đến mép đường là 6,95m. Đo vuông góc từ tâm đầu trục bánh trước xe mô tô về hướng H đến tâm cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên là 37,2m. Đo vuông góc từ tâm đầu trục bánh sau xe mô tô về hướng đường H đến tâm đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô BKS 29H-391.53 là 16,35m.
Vết cày xước đứt đoạn trên mặt đường N có chiều đường H đi Hữu Văn diện 4,4mx1,5cm. Đo từ tâm đầu vết đến mép đường là 4,03m, đo từ tâm cuối vết đến mép đường là 4,96m.
Vùng máu trên mặt đường N diện (2,1x1,25)m đo từ tâm vùng đến mép đường là 5,15m. Đo vuông góc từ tâm vùng về hướng đường H đến tâm cuối vết là 1,4m.
Vết cày xước đứt đoạn trên mặt đường N chiều đường H đi Hữu Văn diện 4,88mx1,5cm. Đo từ tâm đầu vết đến mép đường là 5,75m, đo từ tâm cuối vết đến mép đường là 6,96m. Đo vuông góc từ tâm cuối vết đến tâm đầu trục bánh trước xe mô tô BKS 29Y3-421.02 là 75cm.
Sau khi tiến hành khám nghiệm xong. Cơ quan điều tra tạm giữ phương tiện, giấy tờ sau:
- 01 (một) xe ô tô BKS 29H-391.53, nhãn hiệu Ford Ranger, loại xe tải pickup, màu sơn trắng, số máy 071134, số khung 071134, giấy chứng nhận đăng ký số 705965, tên chủ xe: Nguyễn An V.
- 01 (một) xe mô tô BKS 29Y3-421.02, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn xanh đen bạc, số máy 549987, số khung 527000, giấy chứng nhận đăng ký số 025372, do Công an huyện Ứ cấp ngày 05/10/2017 chủ xe là bà Nguyễn Thị C, Sinh năm 1972, địa chỉ: N, P, Ứ, Hà Nội.
* Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường, kết quả như sau:
- Theo lời khai của anh Nguyễn An V và Nguyễn Văn P. Đặt 2 phương tiện vào vị trí theo lời khai của anh V và P ngay sau khi xảy ra tai nạn. Kết quả, đã xác định được vị trí, chiều hướng xe mô tô do P điều khiển đổ trên mặt đường ngay sau tai nạn, phù hợp với dấu vết trên hiện trường ban đầu, lời khai của những người liên quan. Xác định được vị trí đổ đầu tiên do xe mô tô của P va chạm với mặt đường.
- Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác định tầm quan sát của anh P khi đi vào đoạn đường cong trên, kết quả ở khoảng cách 35,5m thì P có khả năng quan sát thấy xe ô tô do anh V điều khiển đi đến.
- Ngày 07/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục phối hợp cùng các bên liên quan tiến hành dựng lại hiện trường, để xác định vị trí xe ô tô do anh V điều khiển sau tai nạn. Kết quả đo đạc xác định: Do đoạn đường cong, khi xe mô tô bị đổ, xe ô tô do anh V điều khiển có lấn sang phần đường trái, cụ thể bánh trước bên trái lấn 0,5m; bánh sau bên trái lấn 0,8m.
* Kết quả giám định xác định điểm va chạm giữa các phương tiện:
Tại Bản kết luận giám định số 7717 ngày 01/11/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, nội dung kết luận giám định như sau:
- Dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe ô tô biển kiểm soát 29H - 391.53:
- + Dấu vết trượt mất bụi đất, bám dính sợi màu đen (dạng lông tóc) trên diện (6x8)cm ở mặt ngoài góc lượn phía dưới ba đờ sốc trước bên trái xe, chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh 5->8 - Bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày tạo ra.
- + Dấu vết còn lại trên phương tiện không đủ yếu tố giám định.
Dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát: 29Y3 - 421.02:
- + Dấu vết trượt xước nhựa, xước cong kim loại, xước cao su ở mặt ngoài bên phải xe (đầu tay lái, bàn phanh chân, để chân trước, ốp nhựa bảo vệ ống xả), chiều hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên (Ảnh 13->16 - Bản ảnh giám định) do va chạm với vật tày cứng (dạng mặt đường) tạo ra.
- + Dấu vết còn lại trên phương tiện không đủ yếu tố giám định.
- - Không xác định được dấu vết va chạm, dấu vết va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện trên.
- - Không xác định được vị trí va chạm, vị trí va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện trên mặt đường tại hiện trường.
- - Không xác định được tốc độ của 02 phương tiện trên ngay trước khi xảy ra va chạm.
* Thiệt hại về tài sản:
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 189 ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 xe mô tô BKS 29Y3 – 421.02, nhãn hiệu Yamaha Eciter, màu sơn xanh đen bạc, xe cũ đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị thiệt hại, hư hỏng cần thay thế tại thời điểm định giá là: 390.000 đồng.
Đối với xe ô tô BKS 29H-391.53 do anh V điều khiển, quá trình điều tra xác định xe ô tô không bị hư hỏng gì, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành định giá.
* Khám nghiệm tử thi:
Dấu vết bên ngoài: 01 vết mổ vùng đầu còn chỉ khâu kích thước (27cm + 15cm) x 1cm. Bầm tím da vùng trán kích thước 14cm x 6cm. Hai lỗ mũi, miệng có dịch nhầy màu hồng. Rách da còn chỉ khâu ngực phải kích thước 2cm x 1cm. Rách da còn chỉ khâu ngực trái kích thước 1,5cm x 1cm và 1,5cm x 1cm. Thủng da mặt trước khuỷu tay trái kích thước 0,1cm x 0,1cm.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Trưng cầu Trung tâm P2 giám định, xác định nguyên nhân tử vong của chị T. Tuy nhiên, gia đình chị T đã kiên quyết từ chối việc giải phẫu pháp y, chỉ đồng ý khám ngoài tử thi và cam kết không thắc mắc, khiếu kiện về nguyên nhân tử vong của chị T. Tại bản kết luận giám định số 1304/1341
ngày 11/10/2024 của T3 kết luận: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân tử vong.
* Giám định nguyên nhân tử vong qua hồ sơ bệnh án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập bệnh án của chị T tại Bệnh viện Q, Trưng cầu Trung tâm P2 giám định nguyên nhân tử vong qua hồ sơ bệnh án. Tại Bản kết luận giám định số 80/75/KLTTHS-TTPY ngày 08/11/2024 của Trung tâm P2 kết luận: Căn cứ Sao y Bệnh án ngoại khoa số BA24B11000409 của Bệnh viện Q, thành phố Hà Nội nhận định: Nạn nhân Phùng Thị T, sinh năm 2005, nhiều khả năng tử vong do: Đa chấn thương: Chấn thương sọ não (phù não, dập não, xóa mờ bể đáy), chấn thương ngực (tràn khí, tràn máu màng phổi) dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không phục hồi.
* Giám định ADN:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu Trung tâm P2 giám định ADN là các mẫu máu thu tại hiện trường của Phùng Thị T và máu, sơ sợi (dạng tóc) thu trên xe ô tô của anh V1 điều khiển. Tại Bản kết luận giám định số 248/240 ngày 04/11/2024 của T3 kết luận: Do không thu được đầy đủ dữ liệu ADN từ các mẫu thu tại hiện trường gửi giám định, nên không so sánh được các mẫu với nhau.
* Giám định kỹ thuật số và điện tử:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 thẻ nhớ lắp trên camera hành trình xe ô tô do anh V điều khiển, mở kiểm tra không thu giữ được nội dung gì liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu Phòng K - Công an thành phố H giám định phục hồi trích xuất dữ liệu hình ảnh trên camera hành trình. Tại Bản kết luận giám định số 1339 ngày 18/02/2025 của Phòng K kết luận: Trong thời gian ngày 25/9/2024:
- - Tìm thấy 224 file video lưu trữ trong thẻ nhớ gửi giám định.
- - Tìm thấy 29 file ảnh lưu trữ trong thẻ nhớ gửi giám định.
Quá trình mở kiểm tra tệp video “REC08032” phục hồi được, xác định: Khi P điều khiển xe mô tô đi vào đường cong, quan sát thấy xe ô tô ngược chiều do anh V đi đến, P phanh gấp, mất lái, sau đó đổ trượt rê xuống đường, khi xe đổ trượt qua đầu xe ô tô, do camera hành trình bị phần đầu cabin che khuất nên không quan sát được xe mô tô và chị T có va chạm với xe ô tô hay không. Ngay khi xe mô tô của P loạng choạng, xe ô tô do anh V điều khiển giảm tốc độ, đánh lái sang phải, sau đó dừng lại trên mặt đường. Nội dung đoạn video phù hợp với nội dung vụ tai nạn, phù hợp với lời khai của P về việc điều khiển xe đi nhanh, không chú ý quan sát, không giám tốc độ ở nơi có đường giao nhau và đường cong bị che khuất tầm nhìn, gây tai nạn giao thông.
* Về kiểm tra nồng độ cồn và ma túy:
Kiểm tra nồng độ cồn trong máu của anh Nguyễn An V và bị can Nguyễn Văn Pxác định: Cả 2 đều không có nồng độ cồn và chất ma túy trong máu.
* Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe ô tô BKS 29H-391.53, nhãn hiệu Ford Ranger, loại xe tải pickup, màu sơn trắng, số máy 071134, số khung 071134, giấy chứng nhận đăng ký số 705965, tên chủ xe: Nguyễn An V. Xe ô tô trên là tải sản hợp pháp của anh V, anh V cung cấp được đầy đủ giấy phép lái xe đăng ký, đăng kiểm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đều còn hiệu lực, anh V có đơn xin lại tài sản để quản lý, sử dụng. Ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe ô tô cho anh V quản lý, sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô BKS 29Y3-421.02, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn xanh đen bạc, số máy 549987, số khung 527000, giấy chứng nhận đăng ký số 025372, do Công an huyện Ứ cấp ngày 05/10/2017 chủ xe là bà Nguyễn Thị C SN 1972, địa chỉ: N, P, Ứ, Hà Nội. Bà Cúc cung C1 chiếc xe trên bà C đã bán từ năm 2018 cho cửa hàng xe cũ, do đã bán lâu nên không còn lưu giấy tờ mua bán. Hiện không có tranh chấp gì đối với tài sản trên. Anh Nguyễn Văn S mua cũ chiếc xe trên từ tháng 2/2023, nhưng không làm thủ tục sang tên chính chủ xe, hiện là chủ tài sản hợp pháp chiếc xe trên, anh S cung cấp, sáng ngày 25/9/2024, anh S đi làm đêm về, buổi sáng ngủ, để xe và chìa khóa ở sân sau đó P (em trai anh S) tự ý lấy để đi chơi, anh S không giao xe cho P sử dụng. Anh S có đơn xin lại để quản lý sử dụng. Ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe ô tô cho anh S quản lý, sử dụng.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Văn P đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân Phùng Thị T số tiền 40.00.000 đồng, anh Nguyễn An V tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân T số tiền 20.000.000 đồng. Gia đình Phùng Thị T đã nhận đủ số tiền trên, không đề nghị bồi thường thêm gì khác và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho anh P và anh V.
Về thiệt hại tài sản: anh Nguyễn Văn S (là anh trai của Nguyễn Văn P) không có yêu cầu đề nghị gì, xin tự khắc phục hậu quả xảy ra.
Sau khi Cơ quan điều tra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Văn P. Ngày 21/8/2025, Nguyễn Văn P bị tai nạn lao động với thương tích nặng được đưa đến điều trị tại Bệnh viện A-Bộ C2, ngày 05/10/2025, P ra viện về nhà tiếp tục theo dõi, quá trình làm việc, P tỉnh táo, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Đối với anh Nguyễn An V, tài liệu điều tra đến nay xác định P điều khiển xe phóng nhanh, phanh gấp và đoạn đường cong nên người và xe bị ngã đổ rê trượt trên đường, không có căn cứ khẳng định có sự va chạm vào xe ô tô BKS 29H-391.53 do anh
Nguyễn An V điều khiển. Anh V có đầy đủ giấy phép lái xe hợp lệ. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Nguyễn An V là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn S là chủ xe mô tô BKS 29Y3-421.02, anh S và P đều trình bày phù hợp với nhau về việc P tự ý lấy xe đi chơi, khi đi thì anh S đang ngủ nên không biết, anh S không giao xe cho P điều khiển. Nên anh S không phạm tôi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ quy định tại điều 264 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, anh S khi mua xe cũ nhưng không làm thủ tục đăng ký sang tên xe trong thời gian 30 ngày kể từ ngày mua, không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là vi phạm hành chính. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H để xử phạt hành chính đối với anh S theo quy định.
Tại Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-HĐ ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát khu vực 6 – Hà Nội truy tố Nguyễn Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo P. Đề nghị tuyên bố bị cáo P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b (bồi thường xong cho bị hại), s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), khoản 1, khoản 2 (được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ, nhân thân không có tiền án, tiền sự) Điều 51; Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 115, 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Đề nghị phạt từ 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn xã T, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm
sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[3]. Về sự vắng mặt của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan:
- - Bị cáo bị tai nạn lao động, hiện tại đang bị liệt không đi lại được; đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt;
- - Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt;
Xét thấy trong hồ sơ có đầy đủ lời khai của những người trên, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 209; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[4]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra thấy phù hợp với Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm dấu vết phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định nguyên nhân chết của bị hại qua hồ sơ bệnh án, dữ liệu điện tử thu giữ, phù hợp với lời khai người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Văn P không có giấy phép lái xe môtô theo quy định.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/9/2024, P điều khiển xe mô tô BKS 29Y3-421.02 chở phía sau chị Phùng Thị T đi trên đường N hướng đường H đi xã H, vận tốc khoảng 50km/h, cả hai đều không đội mũ bảo hiểm. Do phóng nhanh, không làm chủ tốc độ, không kịp quan sát mặt đường, nên khi điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường có biển báo nguy hiểm, phía trước có ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên, đoạn đường cong sang bên phải, có vạch gờ giảm tốc, nhưng P không chú ý quan sát, không chấp hành hiệu lệnh biển báo và giảm tốc độ trên vạch gờ giảm tốc, không quan sát được phía trước, nên khi phát hiện xe ô tô đi phía trước ngược chiều đến, P giật mình phanh gấp, đánh lái sang phải để tránh xe ô tô, dẫn đến xe mô tô do P điều khiển bị mất lái làm người và xe mô tô đổ rê, đổ trước đầu xe ô tô do anh V điều khiển, sau đó trượt văng trên đường, hướng chếch chéo sang lề đường phải, chị T ngồi sau xe mô tô bị ngã đập đầu xuống nền đường nằm bất tỉnh được đưa đi cấp cứu. Do thương tích nặng, đến ngày 04/10/2024 Phùng Thị T bị tử vong. Xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại là 390.000 đồng.
Hành vi trên của Nguyễn Văn P đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, gây hậu quả
làm chết 01 người, hành vi của Nguyễn Văn P đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
* Điều 11. Luật giao thông đường bộ năm 2008: “1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.....”
* Điều 5. Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;...”
* Điều 260. Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định....”
Đối với anh Nguyễn An V, tài liệu điều tra đến nay xác định P điều khiển xe phóng nhanh, phanh gấp và đoạn đường cong nên người và xe bị ngã đổ rê trượt trên đường, không có căn cứ khẳng định có sự va chạm vào xe ô tô BKS 29H-391.53 do anh Nguyễn An V điều khiển. Anh V có đầy đủ giấy phép lái xe hợp lệ. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Nguyễn An V là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn S là chủ xe mô tô BKS 29Y3-421.02, anh S và P đều trình bày phù hợp với nhau về việc P tự ý lấy xe đi chơi, khi đi thì anh S đang ngủ nên không biết, anh S không giao xe cho P điều khiển. Nên anh S không phạm tội giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ quy định tại điều 264/BLHS. Tuy nhiên, anh S khi mua xe cũ nhưng không làm thủ tục đăng ký sang tên xe trong thời gian 30 ngày kể từ ngày mua, không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là vi phạm hành chính. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H để xử phạt hành chính đối với anh S theo quy định.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội truy tố Nguyễn Văn P về tội danh, điều, khoản nói trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
[5] Về nguyên nhân gây ra vụ tai nạn: Xuất phát từ việc thiếu hiểu biết, khi chưa đủ điều kiện điều khiển xe mô tô (dưới 18 tuổi, không có giấy phép) nhưng P đã tự ý lấy xe mô tô của người nhà điều khiển xe tham gia giao thông, không chấp hành hiệu lệnh biển báo, không giảm tốc độ ở nơi có cảnh báo nguy hiểm, là do lỗi chính của bị cáo P.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tích bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án, tiền sự; được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại thời điểm bị cáo phạm tội là người chưa thành niên nên cần phải áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự và các quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
Xét thấy, lỗi chính trong vụ tai nạn là do bị cáo, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội (21/8/2025) bị cáo bị tai nạn lao động ngã ở độ cao dẫn đến bị chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, hiện không đi lại (biên bản ghi nhận tình trạng sức khỏe của bị can của Cơ quan điều tra ngày 10/10/2025), nên để cho bị cáo yên tâm chữa bệnh, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[3]. Về trách nhiệm dân sư: Đại diện bị hại, bị cáo, người liên quan đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và xe ô tô cho các chủ sở hữu là phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
luật.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 115, 119, 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, phạt:
Nguyễn Văn P: 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho UBND xã Q, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người đại diện hợp pháp của Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CTPT SƠ THẨM Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Bản án số 127/2025/HS-ST ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 127/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Văn Phúc
