|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2026 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Quang Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Hương
Ông Nguyễn Văn Bảy
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 252/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn A, xã Q, (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Số CCCD : [...]
- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy M, sinh năm 1991
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã Q, (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Số CCCD: [...]
Hiện không sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam (đã được tống đạt hợp lệ các văn bản về việc mở phiên tòa lần thứ hai bằng phương thức niêm yết công khai tại nơi cư trú trước khi xuất cảnh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Huy M kết hôn ngày 05/12/2013 có đăng ký tại UBND xã Q, huyện Q (nay là UBND xã Q, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng chung sống hạnh phúc. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, anh Nguyễn Huy M đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần phát sinh cải vã, bất đồng quan điểm sống mâu thuẫn ngày càng căng thẳng không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn căng thẳng, chị không còn thương yêu anh M nữa và xin được ly hôn.
Vợ chồng có 3 con chung là Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 09/6/2015; Nguyễn Huy Tuấn L1, sinh ngày 29/5/2017 và Nguyễn Huy Tuấn D, sinh ngày 09/9/2022 (hiện đang ở với chị N). Ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, riêng và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Huy M:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo, triệu tập anh Nguyễn Huy M đến viết bản tự khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Nguyễn Huy M vắng mặt không có lý do.
Ông Nguyễn Huy Q và bà Hồ Thị T (bố mẹ đẻ anh M) trình bày:
Anh Nguyễn Huy M và chị Trần Thị N lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q trên cơ sở tự nguyện. Anh Nguyễn Huy M hiện đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thường xuyên liên lạc điện thoại với ông bà nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể ở đâu. Sau khi ông bà nhận được giấy triệu tập, thông báo của Toà án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo gửi cho anh M, ông bà đều thông báo cho anh M biết nhưng anh M cũng không có ý kiến gì. Về tình cảm vợ chồng, anh M có nói nếu chị N kiên quyết xin ly hôn thì anh M cũng nhất trí.
Anh Nguyễn Huy M và chị Trần Thị N có ba con chung là Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 09/6/2015; Nguyễn Huy Tuấn L1, sinh ngày 29/5/2017 và Nguyễn Huy Tuấn D, sinh ngày 09/9/2022 (Hiện đang ở với chị N). Nguyện vọng của anh M là giao cả ba con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Huy M.
Về con chung: Giao 3 con chung Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 09/6/2015; Nguyễn Huy Tuấn L1, sinh ngày 29/5/2017 và Nguyễn Huy Tuấn D, sinh ngày 09/9/2022 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, phân chia tài sản chung, riêng và nợ nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Trần Thị N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Trần Thị N với bị đơn anh Nguyễn Huy M.
Anh Nguyễn Huy M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại thôn A, xã Q, (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An. Theo văn bản số 5045/QLXNC-Đ1 ngày 27/11/2025 của Phòng Q1, Công an tỉnh N cho biết, anh Nguyễn Huy M đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N2 lần cuối là ngày 06/01/2025 đến nay chưa nhập cảnh. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh M không đến Tòa án. Chị Trần Thị N có đơn xin giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt. Do vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự là đúng pháp luật theo quy định tại khoản 1 điều 207 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Huy M lấy nhau có đăng kết hôn ngày 05/12/2013 tại UBND xã Q, huyện Q (nay là UBND xã Q, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Cuộc sống chung do anh M đi xuất khẩu lao động nước ngoài, tình cảm vợ chồng xa cách thiếu sự quan tâm liên lạc với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N không còn tình cảm thương yêu anh M nữa và làm đơn ly hôn, gia đinh đã khuyên bàn để vụ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên áp dụng điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Huy M như quan điểm kiểm sát viên đã đề nghị là có căn cứ.
[4] Về con chung: Chị N và anh M có ba con chung là Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 09/6/2015; Nguyễn Huy Tuấn L1, sinh ngày 29/5/2017 và Nguyễn Huy Tuấn D, sinh ngày 09/9/2022. Anh M hiện nay đang đi xuất khẩu lao động nước ngoài không rõ địa chỉ cụ thể, nguyện vọng của chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 3 con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nghĩ nên chấp nhận.
[5] Tài sản chung, riêng và nợ: Chị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Huy M.
Về con:
Giao ba con chung là Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 09/6/2015; Nguyễn Huy Tuấn L1, sinh ngày 29/5/2017 và Nguyễn Huy Tuấn D, sinh ngày 09/9/2022 cho chị Nguyễn Thị N1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Huy M vì chị Trần Thị N không yêu cầu.
Anh Nguyễn Huy M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm cản trở.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.
Án phí:
Buộc chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị N đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002262 ngày 04/11/2025.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Quang Tình |
Bản án số 12/2026/HNGĐ-ST ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 12/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
