Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 11A/2026/HNGĐ-PT

Ngày 26/01/2026

“Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Quốc.

Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tô Hoàng Ơn, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2025/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, về “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 995/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Á, sinh năm 1959, địa chỉ: Tổ G, khu V, phường T, TP ..
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quan hệ tranh chấp chia tài sản chung: Ông Hồ Ngọc T, sinh năm 1978, địa chỉ: Số C đường C, phường B, thành phố Cần Thơ (có mặt).

  • Bị đơn: Ông Trương Văn K, sinh năm 1950, địa chỉ: Số B, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trong quan hệ tranh chấp chia tài sản chung: Bà Trần Thị M, sinh năm 1985, địa chỉ: Số I đường N, phường C, thành phố Cần Thơ (có mặt).

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Tấn B, sinh năm 1984, địa chỉ: Số B, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ (có mặt).
  • Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Á và ông Trương Văn K là nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á và người đại diện ủy quyền trình bày:

Bà Huỳnh Thị Á, ông Trương Văn K tự nguyện chung sống cùng nhau từ năm 1976, đến năm 2014 thì đăng ký kết hôn và được UBND phường T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống ông bà có 04 con chung gồm: Trương Thị Kim B1, sinh năm 1979; Trương Thị Thu H, sinh năm 1981; Trương Tấn B, sinh năm 1984; Trương Thị Thu X, sinh năm 1991, tất cả đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung của vợ chồng: Quyền sử dụng đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ 20, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH 02220, cấp ngày 26/7/2012 do ông Trương Văn K đứng tên. Năm 2022, quyền sử dụng đất bị ảnh hưởng dự án đường V phía tây thành phố, nên diện tích đất bị thu hồi là 624,3m², đất LUC; diện tích còn lại 2.414m², nay bà Á yêu cầu Tòa án giải quyết chia đôi phần tài sản chung này mỗi bên nhận ½ diện tích tương đương 1.207m², bà rút lại yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà tiền chế trên đất.

Đối với số tiền mặt mà ông K yêu cầu chia, bà đã chi tiêu trong gia đình và trả nợ hết, cụ thể như sau:

  • Đối với số tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi thửa 158, ông Khuynh giữ 2.000.000.000 đồng, bà giữ 2.937.000.000 đồng, bà cho con tên Xương 1.000.000.000 đồng. Tiền bán nền tái định cư 1.300.000.000 đồng, số tiền này ông Khuynh giữ 400.000.000 đồng, bà giữ 400.000.000 đồng, còn lại 500.000.000 đồng bà và ông K đã trả nợ chung cho gia đình.
  • Đối với yêu cầu chia đôi số tiền 1.437.000.000 đồng của ông K bà có ý kiến như sau: Số tiền này bà trả nợ chung của 02 vợ chồng như đã nêu trên là 990.000.000 đồng, còn lại 387.000.000 đồng bà chi tiêu sinh hoạt trong gia đình cho ông bà, con và cháu đã hết số tiền trên. Cụ thể trả nợ những người sau:
    • + Bà Nguyễn Thị T1 (tên thường gọi 5 V): số tiền 270.000.000 đồng;
    • + Bà Nguyễn Thị T2 (tên thường gọi 6 Thống): số tiền 60.000.000 đồng;
    • + Bà Lê Thị E (tên thường gọi 6 D) số tiền 410.000.000 đồng;
    • + Bà Nguyễn Thị T3 số tiền: 150.000.000 đồng;
    • + Ông T4 (Hồ Văn O) 01 cây 2 chỉ 05 phân vàng 24K tương đương số tiền 100.000.000 đồng.

Tổng cộng bà Á đã trả nợ chung của vợ chồng là 990.000.000 đồng, còn lại 387.000.000 đồng bà chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, lo cho con cháu hết.

Nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Văn K, người đại diện ủy quyền trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và con chung ông K thống nhất theo lời trình bày của bà Á, nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Á. Về tài sản chung là: quyền sử dụng đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ 20, tọa lạc tại Khu vực T, phường T, giấy CNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH 02220, cấp ngày 26/7/2012. Qua thu hồi diện tích còn lại 2.414m², ông chỉ đồng ý chia cho bà Á 1000m² như thỏa thuận lần đầu hòa giải tại Tòa án vì thửa đất số 158 có nguồn gốc của cha mẹ ông để lại cho ông nên ông yêu cầu hưởng phần nhiều hơn.

Tiền mặt bồi thường do nhà nước thu hồi thửa 158, số tiền 5.337.501.172 đồng, số tiền này ông Khuynh giữ 2.000.000.000 đồng, bà Á giữ 2.937.000.000 đồng, còn 400.000.000 đồng ông bà đã trả nợ chung. Tiền mặt bán nền tái định cư 1.300.000.000 đồng, ông Khuynh giữ 400.000.000 đồng, bà Á giữ 900.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền ông K yêu cầu bà Á có nghĩa vụ chia lại cho ông là 718.500.000 đồng trừ đi 60.000.000 đồng (nợ ngân hàng chính sách) mỗi người chịu 30.000.000 đồng, số tiền còn lại ông yêu cầu bà Á có nghĩa vụ chia cho ông là 688.500.000 đồng.

Nợ chung: Không có.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Trương Tấn B trình bày:

Cây trồng trên thửa đất 158, tờ bản đồ 20, đất tại Khu V, phường T mà mẹ ông là bà Á yêu cầu chia tài sản chung là do ông mua cây giống và trồng trên đất. Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của cha mẹ thì ông không có ý kiến, nhưng phải xem xét chia cho cha cho ông phần nhiều hơn, đồng thời phải xem xét đến quyền lợi của ông vì trên đất ngoài việc trồng trọt chăn nuôi, khai thác hoa lợi trên đất còn có các chi phí xây dựng công trình hàng rào và một căn nhà do vợ chồng ông Bửu B2 chi phí xây dựng. Trường hợp chia đất cho mẹ ông thì bà có trách nhiệm chi trả giá trị cây trồng trên đất theo biên bản định giá ngày 17/7/2025 của Hội đồng định giá Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ. Trường hợp, Tòa án tuyên cho cha ông được sở hữu phần tài sản mà có công trình nhà ở hay cây trồng của ông thì ông không yêu cầu cha ông hoàn trả giá trị các tài sản này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ đã quyết định:

“Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố, phản tố bổ sung của bị đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Á ly H1 với ông Trương Văn K.

- Về con chung: Đã trưởng thành.

- Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Á được quyền sử dụng đất phần đất tại vị trí C, diện tích 1000.0m² và phần đất tại vị trí B, diện tích 207.0m², đất LUC, chiếu theo Trích đo bản đồ địa chính số 31-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ 20, đất tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.

Bà Á có nghĩa vụ trả lại cho ông Trương Tấn B giá trị cây trồng trên đất số tiền 15.748.000 đồng (Mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Ông Trương Văn K được quyền sử dụng phần đất tại vị trí A, diện tích 1207.0m², đất LUC chiếu theo Trích đo bản đồ địa chính số 31-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 20, đất tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. (Kèm bản trích đo).

Ông K, bà Á được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Về tiền mặt: bà Á có nghĩa vụ trả lại cho ông K số tiền 290.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi triệu đồng).

- Về nợ chung: Không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.”

Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07/10/2025, bà Huỳnh Thị Á gửi đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu của ông K về việc buộc bà hoàn trả số tiền 290.000.000 đồng, vì số tiền này bà đã trả nợ chung của vợ chồng và chi tiêu trong gia đình không còn; bà không đồng ý hoàn trả giá trị cây trồng cho ông B, vì giống cây trồng do bà bỏ tiền ra mua.

Ngày 10/10/2025, ông Trương Văn K gửi đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu của ông là phân chia cho bà Á diện tích đất 1.000m² và buộc bà Á phải hoàn trả cho ông số tiền 688.500.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Á về việc đã thanh toán nợ chung của vợ chồng cho bà Lê Thị E số tiền 410.000.000 đồng, lời trình bày của bà Á và bà E là phù hợp với quá trình thanh toán nợ: Lần thứ nhất bà Á trả 300.000.000 đồng, lần thứ hai bà Á đưa tiền cho ông K và anh B trả cho bà E 110.000.000 đồng, ông K và anh B xác nhận có việc này; đối với các nội dung kháng cáo còn lại của bà Á là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Xét xem các nội dung kháng cáo của bà Huỳnh Thị Á và ông Trương Văn K về việc phân chia tài sản chung, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1.1] Bà Á và ông K đều thống nhất tài sản sản chung của vợ chồng bao gồm:

- Quyền sử dụng đất thuộc thửa 158, diện tích đất 2.414m² từ bản đồ 20, đất tại khu vực T, phường T, giấy CNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 02220, cấp ngày 26/7/2012.

- Tiền mặt: Tiền bồi thường do nhà nước thu hồi thửa 158 là 5.337.501.172 đồng và tiền chuyển nhượng nền tái định cư 1.300.000.000 đồng.

[1.2] Thửa đất 158 có nguồn gốc của cha mẹ ông K cho vợ chồng ông, bà từ năm 1976 và hai người đã sinh sống, quản lý sử dụng và tôn tạo thửa đất từ đó cho đến nay. Do vậy cấp sơ thẩm đánh giá công sức đóng góp của ông K và bà Á là ngang nhau và phân chia mỗi người được hưởng 50% diện tích thửa đất là phù hợp, ông K kháng cáo yêu cầu được chia phần nhiều hơn là không có cơ sở chấp nhận.

[1.3] Trên phần đất cấp sơ thẩm phân chia cho bà Á có các cây trồng của anh B với tổng giá trị là 15.748.000 đồng, do vậy cấp sơ thẩm buộc bà Á hoàn trả số tiền này cho anh B và giao cho bà Á được quyền sở hữu các cây trồng này là phù hợp. Việc bà Á kháng cáo không đồng ý thanh toán tiền cho anh B vì cho rằng cây giống là do bà bỏ tiền ra mua, nhưng bà chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Đối với tài sản chung của ông K và bà Á là tiền mặt bao gồm: Tiền bồi thường do nhà nước thu hồi thửa 158 là 5.337.501.172 đồng và tiền chuyển nhượng nền tái định cư 1.300.000.000 đồng. Trong đó, ông Khuynh G 2.400.000.000 đồng, bà Á giữ 3.837.000.000 đồng, còn 400.000.000 đồng đã trả nợ cho ngân hàng N1. Số tiền chênh lệch bà Á giữ nhiều hơn ông K là 1.437.000.000 đồng. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ và tình tiết trong vụ án có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

[2.1] Bà Á đã sử dụng 410.000.000 đồng để trả tiền nợ cho bà Lê Thị E, lời trình bày của bà Á và bà E là phù hợp về quá trình thanh toán nợ: Lần thứ nhất bà Á trả 300.000.000 đồng, lần thứ hai bà Á đưa tiền cho ông K và anh B trả cho bà E 110.000.000 đồng, ông K và anh B xác nhận có việc này.

[2.2] Bà Á đã trả nợ cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 300.000.000 đồng, là nợ tiền hụi mà bà Á làm chủ hụi trong khoảng thời gian từ năm 2010-2013, tại nhà ông K và bà Á. Việc bà Á làm chủ hụi ông K có biết, bà Á đã trả cho bà T1 200.000.000 đồng và đưa tiền cho anh B 100.000.000 đồng trả cho bà T1, phía anh B xác nhận việc này. Bà T1 cũng thống nhất việc này của bà Á. Cấp sơ thẩm xác định việc bà Á làm chủ hụi tạo thu nhập để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình nên xác định đây là nợ chung của vợ chồng là có cơ sở.

[2.3] Bà Á đã trả nợ cho Ngân hàng Chính sách số tiền 60.000.000 đồng, phía anh K thống nhất xác nhận có việc này.

[2.4] Đối với các khoản nợ bà Á trình bày đã trả cho: Bà Nguyễn Thị T3 số tiền 150.000.000 đồng, không có lập biên nhận nợ; trả nợ cho ông Hồ Văn O là 01 cây 02 chỉ 05 phân vàng 24K, không có lập biên nhận nợ; ông K không thừa nhận các khoản nợ này, bà Á chưa cung cấp được chứng minh, do vậy kháng cáo của bà Á về nội dung này chưa có cơ sở để chấp nhận.

[2.5] Đối với khoản tiền 387.000.000 đồng, bà Á trình bày trong khoảng thời gian từ năm 2022 cho đến nay bà đã chi tiêu lo cho sinh hoạt gia đình, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện của ông K xác nhận ông K giao cho bà Á giữ tiền nhiều hơn là để lo chi tiêu cho gia đình, do vậy cấp sơ thẩm chấp nhận lời trình bày của bà Á là có cơ sở.

[2.6] Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định nợ chung của bà Á và ông K 770.000.000 đồng, bà Á đã bỏ tiền ra thanh toán các khoản nợ này xong, bà Á đã sử dụng 387.000.000 đồng để chi tiêu sinh hoạt chung gia đình. Như vậy, sau khi khấu trừ các khoản nợ và khoản tiền chi tiêu cho gia đình thì bà Á còn giữ lại số tiền chênh lệch là 280.000.000 đồng, nên bà Á cho nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông K 140.000.000 đồng.

[3] Từ các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị Á, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn K và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát sửa bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông K phải chịu án phí nhưng ông thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 55 và Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn K.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị Á và sửa bản án sơ thẩm số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ, như sau:

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Á và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trương Văn K:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Á và ông Trương Văn K thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Các con của bà Á và ông K đều đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung:

Phân chia cho bà Huỳnh Thị Á được quyền sử dụng phần đất tại vị trí C, diện tích 1000.0m² và phần đất tại vị trí B, diện tích 207.0m², đất LUC, chiếu theo Trích đo bản đồ địa chính số 31-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ (có đính kèm bản trích đo).

Phân chia cho ông Trương Văn K được quyền sử dụng phần đất tại vị trí A, diện tích 1207.0m², đất LUC chiếu theo Trích đo bản đồ địa chính số 31-2025 ngày 30/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ (có đính kèm bản trích đo).

Ông K, bà Á được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất được phân chia nêu trên theo quy định pháp luật.

Phân chia về tiền mặt: Bà Á có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông K số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, sau này có phát sinh tranh chấp được giải quyết thành vụ kiện khác.

2.2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Trương Tấn B: Buộc bà Á có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh B giá trị cây trồng trên phần đất phân chia cho bà Á với số tiền 15.748.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng) và bà Á được quyền sở hữu các cây trồng này.

2.3. Về chi phí đo đạc, thẩm định là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), ông K và bà Á mỗi người phải chịu 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng), bà Á đã tạm ứng trước số tiền này để thực hiện thủ tục tố tụng, do vậy ông K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Á 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

2.4. Về án phí sơ thẩm: Ông Trương Văn K và bà Huỳnh Thị Á phải chịu án phí, nhưng ông, bà là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền. Ông Trương Tấn B được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002872 ngày 05/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Cần Thơ.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị Á và ông Trương Văn K phải chịu nhưng thuộc trường hợp được miễn nộp tiền.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

- TAND Khu vực 2 – Cần Thơ;

- VKSND TP Cần Thơ;

- VKSND Khu vực 2 – Cần Thơ;

- THADS Khu vực 2 – Cần Thơ;

- UBND phường Thới An Đông, TP Cần Thơ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Quang Nhuận

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)



Phạm Quang N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11A/2026/HNGĐ-PT ngày 26/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung

  • Số bản án: 11A/2026/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger