Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 119/2026/HS-PT

Ngày 03 - 02 - 2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đức Xuân
Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (cơ sở 2), Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 499/2025/TLPT-HS ngày 18/11/2025, do Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp có kháng cáo.

- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

Huỳnh Thị Bích C1, sinh ngày 01/6/1979 tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); giới tính: Nữ; nơi thường trú: Số B, Ô, khu I, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã C, tỉnh Đồng Tháp); nơi ở hiện tại: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1953 và con bà Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1956; chồng tên Ngô Quang T, sinh năm 1975 (đã chết), bị cáo có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Bích C1: Luật sư Nguyễn Ngọc T1 – Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 1972 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

(Ngoài ra, trong vụ án có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/8/2019, Huỳnh Thị Bích C1 mua 01 (một) chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25. Sau đó, C1 nhờ người làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25 nêu trên (không biết tên, địa chỉ). Ngày 11/9/2019, C1 cùng chồng là Ngô Quang T2 (qua đời năm 2020) đã lấy giấy chứng nhận đăng ký xe thật của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25 để thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (P) chi nhánh G, địa chỉ: B, L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là B L, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh) để vay số tiền 780.000.000 đồng.

Đến ngày 16/9/2021, C1 lại tiếp tục lấy xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25 đã thế chấp Ngân hàng nêu trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe giả của xe ô tô để thế chấp cho bà Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 1972; cư trú ấp L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) để vay số tiền 600.000.000 đồng. Khi nhận xe thế chấp, bà Nguyễn Thị Diệu L không biết giấy đăng ký xe mà C1 đưa là giấy giả nên cho C1 vay tiền. Đến ngày 17/12/2021, do không có tiền để trả cho bà L theo cam kết, nên C1 đã thỏa thuận với L bán xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25 nêu trên với giá 800.000.000 đồng và đã ký giấy mua bán xe, cho tặng xe, trên giấy bà L để cho con gái là Phan Thị Diệu T3 (sinh năm 1996, nơi thường trú ấp L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang) đứng tên. Đến tháng 12/2021, bà L và con gái là Phan Thị Diệu T3 chủ động liên hệ làm thủ tục sang tên xe ô tô này thì phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà C1 đưa cho bà L là giấy giả nên trình báo Công an.

Quá trình điều tra, Huỳnh Thị Bích C1 thừa nhận khi mang xe đến thế chấp cho bà L để vay số tiền 600.000.000 đồng cũng như trước khi viết và ký giấy bán xe cho bà L số tiền 800.000.000 đồng thì C1 đưa cho L giấy tờ giả, bởi vì giấy tờ thật của xe đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Đồng thời, C1 cũng không thông báo cho bà L biết xe ô tô biển số 63A - 119.25 đã thế chấp Ngân hàng, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng của bà L.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã nộp 84.500.000 đồng khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Nguyễn Thị Diệu L.

Trong quá trình điều tra đã thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng và tài liệu liên quan chứng minh hành vi phạm tội:

  • 01 giấy mua bán xe ô tô (viết tay) lập ngày 19/6/2021.
  • 01 giấy bán (cho, tặng) xe..., lập ngày 17/12/2021.
  • 01 giấy bán, cho tặng xe lập ngày 19/6/2021.
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 027212, tên chủ xe Huỳnh Thị Bích C1, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTURNE, số xe biển số 63A - 119.25 (giấy giả).

Tại Kết luận giám định số 383/KL-KTHS (Đ2) ngày 14/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  • Phôi in giấy “Chứng nhận đăng ký ô tô” số 027212, tên chủ xe Huỳnh Thị Bích C1, địa chỉ: B Ô1, Khu I, TT C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nhãn hiệu: TOYOTA, màu sơn: Trắng, biển số đăng ký 63A – 119.25, số máy: 2GD0681477, số khung 3GS1K2464388, cấp ngày 19/8/2019 (ký hiệu 383/A) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu;
  • Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG – PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG” trên giấy “Chứng nhận đăng ký ô tô” số 027212 (ký hiệu 383/A) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu;
  • Chữ ký đứng tên Thượng tá Nguyễn Văn D trên giấy “Chứng nhận đăng ký ô tô” số 027212 (ký hiệu 383/A) là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.

Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-ĐGTS ngày 28/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:

  • 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe FORTUNER, màu trắng, biển số đăng ký 63A - 119.25, số khung RL4CB3GSIK2464388, số máy 2GD-0681477. Xe được đăng ký lần đầu vào ngày 19/8/2019, hiện còn sử dụng bình thường.
  • Đơn giá: 1.081.300.000 đồng/chiếc (giá ngày 19/6/2021);
  • Thành tiền: 01 chiếc x 1.081.300.000 đồng/chiếc x 65% = 702.845.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 702.845.000 đồng (Bảy trăm lẻ hai triệu tám trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

Ngày 14/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ghi nhận sự thỏa thuận dân sự giữa bị cáo C1 và bà L. Kết quả: Bà L yêu cầu Chi trả lại cho bà L số tiền là 400.000.000 đồng và không yêu cầu lãi suất. Hiện tại gia đình C1 đã trả cho bà L số tiền 84.500.000 đồng, bà L yêu cầu Chi trả tiếp cho bà L số tiền 315.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ các điểm b, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Diệu L số tiền 715.500.000 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền thi hành án theo quy định.

Ngày 29/9/2025, bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị xem xét lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, chỉ có 600 triệu đồng, không phải là 800 triệu đồng như bị hại đã khai và bản án sơ thẩm đã nhận định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có cung cấp Đơn xin bãi nại của bị hại Nguyễn Thị Diệu L ghi ngày 02/2/2026 với lý do là bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả 715.500.000 đồng cho bị hại.

Bị hại bà Nguyễn Thị Diệu L đã thừa nhận bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 đã khắc phục toàn bộ số tiền 715.500.000 đồng cho bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo C1.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 thừa nhận hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định, bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của Luật sư Nguyễn Ngọc T1 bào chữa cho bị cáo: thống nhất với tội danh mà bản án sơ thẩm đã xét xử. Luật sư cho rằng bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại; bị hại có đơn và lời trình bày tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại các tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết phạm tội nhiều lần mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo không đúng pháp luật. Từ đó, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho cả 2 tội danh.

Tại phần tranh luận, bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Bích C1:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định. Có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 16/9/2021, C1 đem xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 63A - 119.25 đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (P) chi nhánh G vay số tiền 780.000.000 đồng để thế chấp cho bà Nguyễn Thị Diệu L để vay số tiền 600.000.000 đồng. Đến tháng 12/2021, bà L và con gái là Phan Thị Diệu T3 chủ động liên hệ làm thủ tục sang tên xe ô tô này thì phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà C1 đưa cho bà L là giấy giả nên trình báo Công an.

Quá trình điều tra, Huỳnh Thị Bích C1 thừa nhận khi mang xe đến thế chấp cho bà L để vay số tiền 600.000.000 đồng cũng như trước khi viết và ký giấy bán xe cho bà L số tiền 800.000.000 đồng thì C1 đưa cho L giấy tờ giả, bởi vì giấy tờ thật của xe đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (P) chi nhánh G vay số tiền 780.000.000 đồng. Đồng thời, C1 cũng không thông báo cho bà L biết xe ô tô biển số 63A - 119.25 đã thế chấp Ngân hàng, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng của bà L.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan, không sai.

[2.2] Hành vi của bị cáo C1 sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để thực hiện tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại và xâm hại khách thể là quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự quản lý hành chính, bao gồm các quy định về con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp và trong điều kiện hoàn toàn có đầy đủ năng lực về chủ thể. Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nên hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật, để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị cáo đã bồi thường được một phần hậu quả cho bị hại với số tiền 84.500.000 đồng và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo C1 thực hiện thủ đoạn gian dối để lừa đảo bị hại L vay tiền chiếm đoạt 600.000.000 đồng; lần thứ hai, bị cáo C1 tiếp tục lừa đảo bị hại L để bán xe ô tô chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng, trong các lần thực hiện hành vi trên đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng 2 tình tiết tăng nặng định khung quy định tại khoản 3 Điều 341: “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tái lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên”.

Đồng thời cho rằng, bị cáo phạm tội nhiều lần ở tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nên áp dụng bị cáo có tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là áp dụng không đúng pháp luật, gây bất lợi cho bị cáo khi lượng hình. Trong vụ án này, bị cáo C1 chỉ sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để thế chấp, vay tiền của bị hại L vào ngày 16/9/2021 và bị hại L cũng khai nhận bị cáo C1 đã đưa cho bị hại giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe giả một lần duy nhất vào thời gian nói trên, cho nên không thể áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo; mục đích bị cáo C1 sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe giả để tạo lòng tin cho bị hại nhằm chiếm đoạt tiền, bị cáo không buôn bán, kinh doanh giấy tờ giả để thu lợi bất chính. Do vậy, trong trường hợp này, bị cáo chỉ bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là sử dụng giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm c khoản 3 Điều 341 mới phù hợp pháp luật.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng định khung khi quyết định hình phạt trong vụ án này.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C1 cung cấp chứng cứ mới là Đơn xin bãi nại của bị hại Nguyễn Thị Diệu L vào ngày 02/02/2026, theo đó bị cáo C1 đã thanh toán toàn bộ số tiền 715.000.000 đồng cho bị hại L. Bị hại L đã thừa nhận đã nhận đủ tiền, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù có hoàn cảnh khó khăn, buôn bán thua lỗ nhưng bị cáo vẫn cố gắng khắc phục toàn bộ hậu quả, thể hiện rõ thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo C1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại có đơn và lời trình bày xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo... đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và việc áp dụng các tình tiết tăng nặng đối với tội danh “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” có thay đổi như đã nhận định ở trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, do đó cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 02/02/2026, bị cáo C1 đã thanh toán toàn bộ số tiền 715.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị Diệu L. Tại phiên tòa phúc thẩm, cả bị cáo C1 và bị hại L đã thừa nhận hai bên đã thỏa thuận và thanh toán xong, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền nói trên cho bị hại.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Do bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị Bích C1. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Tuyên xử:

1/. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 7 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ các điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

2/. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 đã bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Thị Diệu L số tiền 715.500.000 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

3/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4/. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Bích C1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đồng Tháp (để tống đạt cho bị cáo);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu (Án - Trúc).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Minh

CÁC THẨM PHÁN

Bùi Đức Xuân Cao Văn Tám

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2026/HS-PT ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 119/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger