TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2025/DS-PT
Ngày 14/11/2025
“Tranh chấp về thừa kế tài sản
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng
Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương
Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Vũ Kim Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 10 và 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2025/TLPT-DS, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất ”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2025/DS-ST, ngày 30/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên) bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên.
(Ngày 10/11/2025 bà Y có mặt, ngày 14/11/2025 bà Y vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1945; Nơi cư trú: Số nhà G, phố L, tổ I, xã B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số nhà B, đường L, phường C, tỉnh Lào Cai.
(Ngày 10/11/2025 bà Y có mặt, ngày 14/11/2025 bà Y vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số nhà A, tổ dân phố Y, phố B, phường V,, thành phố Hà Nội.
(Ngày 10/11/2025 bà Y có mặt, ngày 14/11/2025 bà Y vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T2: Ông Tăng Gia L, sinh năm 1951 (là chồng của bà T2); Nơi cư trú: Thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, tỉnh Hưng Yên.
(Ngày 10/11/2025 bà Y có mặt, ngày 14/11/2025 bà Y vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số nhà B, đường L, phường C, tỉnh Lào Cai.
(Ngày 10/11/2025 bà Y có mặt, ngày 14/11/2025 bà Y vắng mặt)
- Bà Lê Thị T3, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn N, Phường T, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Đường A, Tổ F, Ấp E, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn K, xã N, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND thành phố T: UBND phường T, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Đức C - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Lan A - phó chủ tịch UBND phường. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Trung H trình bày:
Ông bà nội anh là ông Nguyễn Trung Đ1 (đã chết ngày 14/8/1994) và bà Phạm Thị K (đã chết ngày 4/10/2002). Cụ Nguyễn Trung Đ1 và cụ Phạm Thị Khiếu S được 7 người con là ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Trung T4 (bà bố đẻ của anh H), bà Nguyễn Thị L1 (L), bà Nguyễn Thị M. Ông Nguyễn Trung Đ2 chết năm 1996, ông Đ2 kết hôn với bà Lê Thị T3, sinh được 3 người con là Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Hoài .
Hai cụ chết không để lại di chúc. Hai cụ để lại di sản là thửa đất số 4538 tờ bản đồ số 04/1991, địa chỉ thôn N, xã V ,thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi cụ Đ1 mất bà Y về ở cùng cụ K được khoảng 3 năm thì cụ K qua đời. Từ đó bà Y là người quản lý, sử dụng di sản. Các con của 2 cụ không có tài sản gì đóng góp vào khối tài sản chung của 2 cụ. Anh H xác định anh không tham gia cuộc họp gia đình, không biết nội dung cuộc họp xây dựng nhà thờ, diện tích nhà thờ, đóng góp tiền xây nhà thờ và việc bán đất cho bà Y. Tài sản trên đất ông bà nội anh hiện còn B và chuồng chăn nuôi cũ là của ông bà nội anh nhưng đã xuống cấp nghiêm trọng, hai bể lọc nước cũ cũng là của ông bà nội anh làm nhưng không còn giá trị sử dụng nên anh không yêu cầu chia và không yêu cầu định giá. Về cây cối: Chỉ có 01 cây xoài to anh cũng không yêu cầu giải quyết. Còn lại toàn bộ tài sản khác như nhà cấp 4, và cây trồng khác là do bà Y trồng.
Đối với biên bản họp gia đình ngày 24/9/2012 đúng là anh có ký vào biên bản này, lý do anh ký vào biên bản là vì lúc đó gia đình có bàn bạc cắt bán đất cho bà Y để lấy tiền xây nhà thờ ông bà nội anh nhưng bà Y không làm theo đúng biên bản (không xây nhà thờ riêng) nên anh mới khởi kiện. Nhà thờ mà lại chung móng, chung mái, chung tường với nhà ở của bà Y là anh không đồng ý. Đến thời điểm này quan điểm của anh chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất thực tế do cụ Đ1, cụ K để lại (theo kết quả đo đạc thẩm định là 391.5m²). Cụ Đ1 và cụ khiếu chết không để lại di chúc. Anh không thừa nhận việc các ông bà mua bán đất cho nhau, không yêu cầu chia di sản là tài sản trên đất. Nguyện vọng của anh là được hưởng thừa kế bằng hiện vật (đất). Anh yêu cầu chia chung kỷ phần thừa kế của anh, mẹ anh (bà Lê Thị T3), anh Nguyễn Trung Đ và chị Nguyễn Thị H1 cho anh được hưởng do bà T3, anh Đ, chị H1 đều đồng ý nhường kỷ phần thừa kế cho anh và anh đồng ý nhận.
Ngoài ra anh H còn đề nghị Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ KX1995.02 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình cấp ngày 25/12/1995. Đến ngày 20/02/2025, anh H có đơn xin rút yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
2. Bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Trung T, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Thống nhất về bố mẹ, anh chị em trong gia đình và ngày chết của cụ Đ1, cụ K và tài sản của cụ Đ1, cụ K để lại trước khi chết, cụ Đ1 và cụ K chết không để lại di chúc. Tuy nhiên sau khị cụ K và cụ Đ1 chết anh chị em và anh H, cùng bà T3 trong gia đình có họp ngày 07/1/2003 và ngày 02/10/2009 và 21/9/2012 thống nhất để lại cho bà Y phần đất có diện tích 70m² để bà Y bỏ 40.000.000đ, cùng anh em thêm tiền vào 40.000.000₫ nữa để xây một phòng thờ diện tích 18m² làm nơi cúng bố mẹ. Số tiền 40.000.000đ, anh em bỏ ra thì bà Y và mẹ con bà T3 hoàn cảnh khó khăn không phải đóng góp. Các anh chị em cũng xác định giao cho bà Y quản lý sử dụng toàn bộ phòng thờ, diện tích đất còn lại để làm nơi thờ cúng chung để các con cháu về tập chung thờ cúng. Nay anh H có đơn khởi kiện các đương sự đều có quan điểm không chia thửa đất trên mà để làm nơi thờ cúng bố mẹ chung như biên bản họp gia đình đã thể hiện.
3. Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là bà Lê Thị T3, Nguyễn trung Đ, Nguyễn Thị H1 trình bày: Nhất trí quan điểm của anh H, trong trường hợp chia thừa ké thì nhường kỷ phần được hưởng cho anh H bằng quyền sử dụng đất để làm nơi thờ cúng. Ngoài ra bà T3 xác định việc bà T3 bỏ ra số tiền 40.000.000đ để lấy 70m² đất là đúng.
Bà Nguyễn Thị T1, Tòa án đã tiến hành triệu tập bà T1 nhiều lần nhưng không được, nên không có quan điểm.
Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày:
Xã V trước đây thuộc quản lý của huyện K; Năm 2008, xã V sáp nhập về thành phố T, tuy nhiên, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên không được bàn giao về thành phố. Để giải quyết tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận đã cấp nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng đối tượng theo quy định.
Ủy ban nhân dân xã V cung cấp:
Theo bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ quy chủ dân cư năm 1991 của xã V, xác định: Thửa số 4538, diện tích 414,0m² đất Thổ (T) ghi tên chủ sử dụng là Nguyễn Trung Đ1; cụ Nguyễn Trung Đ1 chết năm 1994;
Thủ tục, hồ sơ, tài liệu cấp GCNQSDĐ có số phát hành H218094, số vào sổ QSDĐ/KX1995-02 ngày 25/12/1995 ghi tên Nguyễn Thị Đ3 được thực hiện tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 1995 hiện U; thủ tục, trình tự cấp GCN theo quy định tại thời điểm hiện UBND xã không có tài liệu;
Căn cứ vào số liệu diện tích đất ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành H218094 thì xác định là Giấy chứng nhận cấp chung cho hộ (các nhân khẩu chung hộ, mỗi khẩu 652 tại xã V được giao 526m² đất nông nghiệp); Tuy nhiên thời điểm cấp Giấy chứng nhận cụ Nguyễn Trung Đ1 đã chết, do đó việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên Nguyễn Thị Đ3 có số phát hành H218094 ngày 25/12/1995 là sai đối tượng. Ngoài ra UBND xã V xác định lý do có sự biến động diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với hiện trạng do sai số trong đo đạc
Theo biên bản xem xét thẩm định định giá tài sản:
1. Về đất: Thửa đất số 332, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (theo bản đồ Vlap là thửa số 340, tờ bản đồ số 22), địa chỉ thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình có Đất 391.5m² Trong đó 360m² đất ở trị giá: 2.700.000.000đ. 31.5m² đất trồng cây lâu năm trị giá 31.500.000đ.
2. Về công trình xây dựng trên đất: Nhà 01 tầng 54,7m² (gồm 01 gian phòng thờ 23m² và 01 gian nhà ở 31,7m² trị giá 95.725.000 đồng (trong đó gian phòng thờ: 23m² trị giá 40.250.000 đồng; gian phòng ở của bà Y: 31,7m² trị giá 55.475.000 đồng); Nhà phụ (bếp lợp mái fibrôximăng) 17,8m², trị giá 12.460.000 đồng; Sân bê tông gạch vỡ láng vữa xi măng cát, diện tích 109,4m². Sau khi trừ đi 16,7m² là nền của lán tôn. Diện tích sân bê tông còn: 92,7m² trị giá 8.111.250 đồng; Lán tôn vì kèo thép, diện tích 16,7m² (bao gồm cả phần sân bê tông 16,7m² là nền lán tôn) giá trị: 2.045.750 đồng; Cổng tuýp sắt, khung sắt ống (cao 2m, rộng 1,8m = 3,6m2 trị giá 567.000 đồng.
Đối với : Tường dậu, 2 bể lọc nước cũ không còn giá trị sử dụng nên đương sự không có yêu cầu định giá ; Gian bếp cũ và chuồng lợn cũ 16,1m², hiện không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu định giá.
3. Cây trồng trên đất :
- - 01 cây xoài đường kính 51cm trị giá 1.350.000, 02 cây xoài đường kính 12cm trị giá 700.000 đồng, 01 cây đường kính 16cm trị giá 1.000.000 đồng
- - 01 cây roi giá trị: 400.000 đồng
- - 01 cây hồng xiêm có đường kính 08cm; giá trị 350.000 đồng
- - 01 cây sấu có đường kính 35cm có giá trị 473.000 đồng
- - 01 cây ổi có đường kính 07cm có giá trị: 250.000 đồng
- - 01 cây bòng (bưởi) có đường kính 11cm, có giá trị 600.000 đồng
- - 03 cây nhãn có đường kính 22cm, 35cm, 16cm có giá trị lần lượt là 1.000.000 đồng; 1.200.000 đồng; 1.000.000 đồng.
- - 01 cây na có đường kính 8cm, giá trị 250.000 đồng
- - 01 cây cóc có đường kính 10cm, có giá trị 600.000 đồng
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2025/DS-ST, ngày 30/6/2025 của 16/2025/DS-ST, ngày 30/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên) đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 217, 266, 271, 273, khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế là một phần quyền sử dụng đất của hai cụ Nguyễn Trung Đ1 và Phạm Thị K để lại tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, bản đồ Vlap, địa chỉ tại thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình theo diện tích đo đạc thực tế cho những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật.
Xác định diện tích đất ở 67,5m² (trên diện tích đất này có gian nhà ở và bếp lợp fibrôximăng do bà Y xây dựng năm 2012) trong tổng diện tích 391,5m² tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, bản đồ Vlap, địa chỉ tại thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình không còn là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Trung Đ1 và cụ Phạm Thị K để lại theo thoả thuận của các đồng thừa kế tại các biên bản họp gia đình ngày 21/9/2012 và ngày 24/9/2012. Không chấp nhận thỏa thuận của các đồng thừa kế tại 02 biên bản họp gia đình nêu trên đối với phần diện tích 2,5m² đất ở (trong 70m² ghi trong các biên bản là thuộc quyền sử dụng của bà Y) do không có ý kiến đồng ý của người đồng thừa kế là anh Nguyễn Trung Đ.
Xác định di sản cụ Nguyễn Trung Đ1, cụ Phạm Thị K để lại và có yêu cầu chia thừa kế là quyền sử dụng đất còn lại tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, bản đồ Vlap, địa chỉ tại thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình là 324m² (trong đó đất ở là 292,5m²; đất CLN là 31,5m²), tổng giá trị di sản là: 2.193.750 đồng (đất ở) + 31.500.000 đồng (đất CLN) = 2.225.250.000 đồng (hai tỷ hai trăm hai mươi lăm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh H về việc chỉ đề nghị chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất nêu trên, không yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là các tài sản trên thửa đất (gồm 01 cây xoài to đường kính 51cm, giá trị 1.350.000 đồng và diện tích nhà bếp + chuồng chăn nuôi cũ 16,1m², không còn giá trị sử dụng; 01 phần tường dậu cũ đã hết giá trị sử dụng, 02 bể lọc nước cũ đã hết giá trị sử dụng, không yêu cầu chia) và không yêu cầu chia di sản đối với diện tích đất ruộng của hai cụ để lại.
Ghi nhận sự tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế của bà Lê Thị T3, anh Lê Trung Đ4, chị Lê Thị H2 cho anh Nguyễn Trung H được hưởng.
2. Xử:
2.1. Tách 01 phần di sản làm ngõ đi chung, diện tích 49,6m² (trong đó đất ở: 18,1m²; đất CLN: 31,5m²). Ngõ đi chung có vị trí tương đối:
Tổng giá trị ngõ đi chung: 167.250.000 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Trên phần ngõ đi chung có 01 cổng sắt 3,6m², giá trị còn lại 567.000 đồng và 32,3m² sân bê tông, giá trị còn lại 2.826.250 đồng thuộc quyền quản lý, sử dụng chung của những người thừa kế của cụ Đ1, cụ K (không phải thanh toán giá trị tài sản cho bà Y). Đối với 1 số cây cối nằm trên phần đất này, bà Y có trách nhiệm di dời để làm ngõ đi chung.
2.2. Chia và giao cho những người thừa kế của cụ Đ1, cụ K (gồm: các ông bà: Nguyễn Trung T, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị L1 (L), Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Y, Lê Thị T3 và các anh chị: Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Trung H và Nguyễn Thị H1) cùng quản lý, sử dụng chung diện tích 73,6m² đất ở (Trong diện tích 73,6m² đất ở, phần của bà Y có 10,6m²; phần của ông T, bà T2, bà T1, bà L1, bà M mỗi phần là 10,5m²; tổng phần của bà T3 + anh Đ + anh H + chị H1 là 10,5m²).
Tổng giá trị quyền sử dụng đất chia cho các đồng thừa kế quản lý, sử dụng chung là 552.000.000 đồng (năm trăm năm mươi hai triệu đồng).
Tất cả những người đồng thừa kế của cụ Đ1, cụ K nêu trên đều được quản lý, sở hữu, sử dụng chung các tài sản trên phần đất này gồm: 01 gian thờ chung là 23m² (bao gồm cả bức tường ngăn cách với gian phòng ở của bà Y), giá trị còn lại của gian phòng thờ là 40.250.000 đồng (bốn mươi triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 phần sân bê tông diện tích 35,8m² giá trị còn lại là: 3.132.500 đồng nằm trên phần đất được chia và toàn bộ cây cối hiện đang trồng trên phần đất này (không phải thanh toán giá trị phần sân bê tông và cây cối cho bà Y).
2. 3. Chia bà Y quản lý sử dụng riêng 118,8 m² đất ở (trong đó có 67,5m² đất sử dụng riêng không nằm trong di sản)
Tổng giá trị di sản là quyền sử dụng đất và phần đất riêng của bà Y chia theo thực tế là: 891.000.000 đồng [trong đó đất riêng 67,5m², giá trị 506.250.000 đồng; đất bà Y được thừa kế và trích công sức quản lý di sản (45,1m²) và được giao thêm (6,2m²) tổng là 51,3m² giá trị 384.750.000 đồng].
Bà Y được quản lý, sở hữu và sử dụng diện tích nhà bếp + chuồng chăn nuôi cũ 16,1m² và 02 bể lọc nước (có thể di dời được) do cụ Đ1, cụ K để lại; đồng thời bà Y sở hữu, sử dụng các tài sản do bà Y xây dựng trên phần đất được chia gồm: 01 gian phòng ở (giáp gian phòng thờ) 31,7m² (không bao gồm bức tường giáp với gian thờ chung), giá trị còn lại 55.475.000 đồng; 01 bếp mái fibrôximăng 17,8m² giá trị còn lại: 12.460.000 đồng; 01 lán tôn, diện tích 16,7m² (bao gồm cả 16,7m² sân bê tông là nền của lán tôn), giá trị còn lại: 2.045.750 đồng ; 01 phần sân bê tông diện tích 24,6m² còn lại (giá trị còn lại: 2.152.500 đồng) trên phần đất bà được chia, giao.
2.4. Chia và giao chung cho ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T1 quản lý, sử dụng chung diện tích 149,5m² đất ở.
Tổng giá trị quyền sử dụng đất chia và giao chung cho ông T, bà T2, bà L1, bà M, bà T1 quản lý, sử dụng là: 1.121.250.000 đồng.
Trong đó phần của ông T là 45,7m² (gồm 25,95m² thừa kế riêng và 19,75m² giao thêm); phần của các bà T2, L1, M, T1 mỗi người bằng 25,95m². Tạm giao cho ông T quản lý phần thừa kế của bà T1 để sau này giao lại cho bà T1.
Trên phần đất 149,5m² này, các ông bà T, T2, L1, M, T1 được sở hữu: 01 cây xoài to, đường kính 51cm, giá trị 1.350.000 đồng do cụ Đ1 và cụ K để lại; sở hữu các cây do bà Y trồng trên phần đất gồm: 01 cây na, giá trị 250.000 đồng; 03 cây nhãn, giá trị 3.200.000 đồng; 01 cây roi giá trị 400.000 đồng; 01 cây bưởi (bòng) đường kính 11cm giá trị 600.000 đồng. Tổng trị giá các cây (có định giá) do bà Y trồng trên phần đất này là: 4.450.000 đồng.
Các ông bà T, T2, L1, M, T1 có nghĩa vụ liên đới trả giá trị cây cối cho bà Y số tiền là 4.450.000 đồng (mỗi người là 890.000 đồng).
Bà Y có nghĩa vụ di dời một số cây khác trên phần đất này (các cây không thẩm định định giá) để trả lại đất cho các ông bà trên.
2.5. Bà Nguyễn Thị Y phải thanh toán trả chênh lệch kỷ phần thừa kế cho anh Nguyễn Trung H số tiền 46.500.000 đồng (bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng); ông Nguyễn Trung T phải thanh toán trả chênh lệch kỷ phần thừa kế cho anh Nguyễn Trung H số tiền 148.125.000 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Anh Nguyễn Trung H được sở hữu số tiền do bà Y, ông T thanh toán chênh lệch giá trị kỷ phần thừa kế.
2.6. Đối với phần tường dậu cũ do cụ Đ1, cụ K xây dựng (không còn giá trị sử dụng), nếu nằm trên phần đất được chia và giao cho ai thì người đó có quyền quản lý, sở hữu, sử dụng.
(Việc chia, giao di sản và tài sản có sơ đồ kèm theo bản án).
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H218094, số vào sổ QSDĐ/KX1995-02 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình cấp ngày 25/12/1995 mang tên cụ Nguyễn Thị Đ3. Không giải quyết chia thừa kế đối với đất ruộng của cụ Nguyễn Trung Đ1 và cụ Nguyễn Thị K1 do các đương sự không yêu cầu.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Trung T kháng cáo đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của anh Nguyễn Trung H mà để làm nơi thờ cúng chung. Trong trường hợp phải chia thừa kế đề nghị chia toàn bộ tài sản là di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1 là phần đất có diện tích 391.5m² (trong đó có 360m² đất ở và 31.5m² đất trông cây lâu năm và chia cả phần diện tích đất nông nghiệp 1.036.6m² cho các đồng thừa kế và không đẻ lại đất làm nơi thờ cúng cung và cũng không xác định phần đất mà tòa đã tách cho bà Y 67.5 m² và chia cho các đương sự bằng quyền sử dụng đất cho các kỷ phần thừa kế vì về phía anh em ông tuổi cao sức yếu không có tiền trả chênh lệch tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người đại diện theo ủy quyền của ông T là bà M yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của anh H mà toàn bộ thửa đất trên để lại làm nơi thờ cúng. Trong trường hợp phải chia thì đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1 phần đất có diện tích 391.5m² đều cho 7 kỷ phần thừa kế là các con của cụ Đ1 và cụ K1. Về phía bà Y, bà T1, bà L1 và bà M nhất trí với yêu cầu trên của ông T. Ngoài ra bà Y xác định tự nguyện không yêu cầu công sức trong việc quản lý di sản và xác định khi xây gian thờ bà bỏ ra 40.000.000đ để lấy phần đất 70m² nay bà cũng tự nguyện nhập diện tích đất này vào để xác định di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1 để chia đều cho 7 kỷ phần. Đối với giá trị công trình xây dựng trên phần đất giao cho ai thì người đó có trách nhiệm trả bà bằng tiền. Anh H cũng nhất tria chia là 7 kỷ phần, đối với kỷ phần thừa kế của bà L2, anh Đ và chị H1 nhường cho anh, anh xin nhận và có nguyện vọng được hưởng thừa kế bằng quyền sử dụng đất.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T về chia thừa kế, chấp nhận sự tự nguyện của bà Y không yêu cầu công sức trong việc quản lý di sản và khi xây gian thờ bà bỏ ra 40.000.000đ để lấy phần đất 70m² nay bà cũng tự nguyện nhập diện tích đất này vào để xác định di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1 để chia đều cho 7 kỷ phần. Chia thừa kế diện tích đất 391.5m² cho ông bà Y, anh H và ông T. ông T, bà Y và anh H có trách nhiệm trả các đồng thừa kế khác bằng tiền theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ của vụ án có trong hồ sơ, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ông Nguyễn Trung T kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ việc được Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ông T kháng cáo vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho bà M, bà M có mặt. Bà T2, bà L2, anh Đ và chị H1 vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trung T.
[2.1] Về yêu cầu kháng cáo không đồng ý chia di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1, Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự đều xác định cụ Nguyễn Trung Đ1 và cụ Phạm Thị Khiếu S được 7 người con là ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Trung T4 (bà bố đẻ của anh H), bà Nguyễn Thị L1 (L), bà Nguyễn Thị M. Ông Nguyễn Trung Đ2 chết năm 1996, ông Đ2 kết hôn với bà Lê Thị T3, sinh được 3 người con là Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Hoài . Cụ Đảng chết năm 1994, ông T4 (bố anh H) chết năm 1996. Như vậy ông T4 là người thừa kế kế hàng thứ nhất của cụ Đ1. Vào thời điểm cụ K1 mất năm 2002, thì anh H là người thừa kế thế vị của ông T4. Căn cứ vào Điều 651 và 652 Bộ luật dân sự thì anh H có quyền khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1. Do vậy, việc ông T kháng cáo không đồng ý chia thừa kế di sản của cụ Đ1 và cụ K1 là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo chia di sản thừa kế toàn bộ thửa đất theo bản đồ Vlap năm 2011-2012, là thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, có diện tích 400,8m² (đo thực tế 391.5 m² trong đó 360m² đất ở và 31.5m² đất CLN), Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.2.1]. Về nguồn gốc đất: Các đương sự đều xác định nguồn gốc thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, có diện tích 400,8m² (đo thực tế 391.5 m² trong đó 360m² đất ở và 31.5m² đất CLN). Trị giá: 2.731.500.000đ là của cụ Đ1 và cụ K1, phù hợp với cung cấp của UBND xã V, nên thửa đất trên là di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1.
Tại phiên tòa bà Y tự nguyện không yêu cầu công sức cũng như tự nguyện xác định toàn bộ thửa đất và diện tích đất trên là di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ K1 để chia đều cho các con của cụ Đ1 và cụ K1 và đối với số tiền bà bỏ ra để làm gian thờ ai ở phải có trách nhiệm trả bà giá trị bằng tiền, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[2.2.2]. Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế: Cụ Đảng mất 14/8/1994; cụ K1 mất năm 2002. Tháng 11/2023, anh H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án (chưa được 30 năm). Căn cứ vào Điều 623 Bộ luật dân sự thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn.
[2.2.3] Về diện và hàng thừa kế và cách chia từng thời điểm:
+ Thời điểm cụ Đảng mất năm 1994 hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ1 là cụ K1, ông T, bà T1, bà T2, bà Y, ông T4, bà L1 (L), bà M. Xác định ông T4 mất năm 1996 nên vợ ông T4 là bà T3 và các con ông T4 là anh Đ, anh H, chị H1 được hưởng kỷ phần thừa kế của ông T4 là phù hợp. Như vậy di sản thừa kế 2.731.500.000đ: 2 = 1.365.750.000đ (phần của cụ Đ1) được chia 8 kỷ phần mỗi kỷ phần được hưởng 170.718.700đ.
+ Thời điểm ông T4 mất năm 1996, cụ K1, bà L2, anh Đ, anh H và chị H1 là người hàng thừa kế thứ nhất của ông T4. 170.718.700đ : 5 = 34.143.700đ.
+ Thời điểm cụ K1 mất năm 2002, di sản thừa kế của cụ K1 gồm: 1.365.750.000đ (phần của cụ K1) + 34.143.700đ (phần cụ K1 hưởng của ông T4) + 170.718.700đ (phần được hưởng của cụ Đ1) = 1.570.612.400đ. được chia làm 7 kỷ phần gồm ông T, bà T1, bà T2, bà L1, bà M, bà Y và (anh H, anh Đ và chị H1 được thừa kế thế vị của ông T4). Mỗi kỷ phần được 224.373.200đ. Anh Đ, chị H1 và anh H mỗi người được 74.791.000đ.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà L2, anh Đ, chị H1 nhường kỷ phần thừa kế cho anh H, nên anh H được (74.791.000₫ x3) + (34.143.700đ x 4) (cả kỷ phần thừa kế của anh H) = 360.947.800đ.
Ông T, bà Y, bà T1, bà T2, bà L1 và bà M mỗi người được 224.373.200₫ + 170.718.700₫ = 395.091.900₫.
+ Việc chia bằng quyền sử dụng đất như sau:
Xét thấy do đặc thù hình thể thửa đất là ngõ nhỏ cụt, mặt khác về phía bà L1, bà M và bà T1 đều xác định có nhà ở ổn định không có nhu cầu về ở nên để lại phần đất có diện tích 74.1m² trong đó có 31.5m² là đất trồng cây lâu năm và 42.6 m² đất ở làm lối đi chung. Tổng trị giá 351.000.000đ.
Giao cho ông Nguyễn Trung T phần đất theo hình S1 có diện tích 73.6m² trị giá 552.000.000đ.
Giao cho bà Nguyễn Thị Y phần đất có diện tích 118.8m² trị giá 891.000.000₫ theo hình S2.
Giao cho anh Nguyễn Trung H phần đất có diện tích 62.5m² trị giá: 468.750.000₫ theo hình S3.
Giao cho bà Nguyễn Thị Thu P đất có diện tích 62.5m² trị giá: 468.750.000₫ theo hình S4.
Đối với ngõ đi chung chỉ thuộc quyền sử dụng chung của ông T, anh H, bà T2 và bà Y có tổng trị giá 351.000.000đ. Như vậy phần quyền trong ngõ đi chung của 4 người, mỗi người có trị giá 87.750.000₫.
Như vậy: Trên thực tế di sản mỗi người thực hưởng: Ông T: 87.750.000đ + 552.000.000₫ = 639.750.000đ. Trong khi đó thực ông T chỉ được 395.091.900₫ thừa 244.658.100₫
Anh H thực hưởng: 468.750.000đ + 87.750.000đ = 556.500.000đ trong khi đó anh H chỉ được 360.947.800đ, thừa do với kỷ phần thừa kế 195.552.200đ;
Bà Y thực hưởng 891.000.000đ +87.750.000₫ = 978.750.000 đ. Trong khi đó bà Y chỉ được 395.091.900đ, thừa ra 583.658.100đ.
Bà T2 thực hưởng: 468.750.000đ + 87.750.000₫ = 556.500.000đ trong khi đó bà T2 chỉ được 395.091.900đ; thừa so với kỷ phần thừa kế 161.408.100đ;
Trả chênh lệch tài sản:
1. Bà Y có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị T1 395.091.900đ; Trả bà Nguyễn Thị M 188.566.200₫
2. Ông Nguyễn Trung T có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị M 206.525.700đ và trả bà Nguyễn Thị L1 (L) 38.132.400đ.
3. Anh Nguyễn Trung H có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị L1 (L) số tiền 195.552.200₫;
4. Bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị L1 (L) số tiền 161.408.100₫
Đối với công trình xây dựng là 01 gian là 23m² (bao gồm cả bức tường ngăn cách với gian phòng ở của bà Y) trị giá 40.250.000 đồng, và 01 phần sân bê tông diện tích 35,8m² giá trị còn lại là: 3.132.500. Tổng là 43.382.500đ, ông T được quyền sở hữu, ông T có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Y số tiền là 43.382.500đ. Ông T được quyền sở hữu 02 cây xoài và 01 cây hồng Xiêm, ông T có trách nhiệm trả bà Y 1.050.000₫
Anh H được quyền sở hữu 01 cây na, 01 cây bưởi và 02 cây nhãn và có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Y số tiền 2.850.000đ.
Bà Nguyễn Thị T2 được quyền sở hữu 02 cây nhãn có trách nhiệm trả bà Y 2.000.000₫.
Đối với cây trồng do bà Y xây dựng nằm trên phần đất xác định là lối đi chung bà Y có trách nhiệm di chuyển để trả phần đất là lối đi chung.
[2.3] Xét kháng cáo chia di sản thừa kế của cụ Đ1, cụ K1 là diện tích đất nông nghiệp là 1.036,6m²: Tại đơn khởi kiện của anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết di sản của cụ Đ1, cụ K1 là đất nông nghiệp và tại các buổi làm việc ông T và các đương sự đều không có đơn đề nghị Tòa án giải quyết nên nội dung kháng cáo của ông T chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết. Theo quy định của pháp luật thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm đã giải quyết nên kháng cáo của ông T không được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 166, Điều 500, Điều 501 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trung T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST, ngày 30/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên) như sau:
1.1 Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Trung Đ1 và cụ Phạm Thị K là thửa đất số 340, tờ bản đồ số 22, có diện tích 400,8m² (đo thực tế 391.5 m² trong đó 360m² đất ở và 31.5m² đất CLN). Trị giá: 2.731.500.000đ. Vị trí thửa đất tại thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Y không yêu cầu công sức trong việc quản lý di sản và phần diện tích đất bà được hưởng khi bỏ ra 40.000.000đ để lấy 70m² đất.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T3, anh Nguyễn Trung Đ và chị Nguyễn Thị Hoài N kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho anh Nguyễn Trung H.
1.2. Phân chia thừa kế toàn bộ thửa đất trên theo quy định của pháp luật như sau:
Phân chia thừa kế bằng tiền: Ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L1 (tức L3), bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Y mỗi người được hưởng: 395.091.900đ. Bà Lê Thị T3 được hưởng 34.143.700đ; anh Nguyễn Trung H, anh Nguyễn Trung Đ và chị Nguyễn Thị H1 mỗi người được hưởng: 108.934.700đ.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T3, anh Nguyễn Trung Đ và chị Nguyễn Thị Hoài N kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho anh Nguyễn Trung H. Anh H được hưởng 360.947.800₫
1.3. Phân chia bằng quyền sử dụng đất:
Xác định diện tích làm lối đi chung cho ông Nguyễn Trung T, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Trung H là phần đất có diện tích 74.1m² theo hình S5 trong đó có 31.5m² là đất trồng cây lâu năm và 42.6 m² đất ở. Tổng trị giá 351.000.000đ (phần giá trị bằng tiền trong ngõ đi chung ông H, bà Y, anh H và bà T2 mỗi người được 87.750.000₫)
+ Giao cho ông Nguyễn Trung T phần đất theo hình S1 có diện tích 73.6m² trị giá 552.000.000đ. Ông T được quyền sở hữu gian thờ có diện tích 23m²; phần sân bê tông diện tích 35.8m²; 02 cây xoài và 01 cây hồng xiêm. Ông T có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Y 44.432.500đ.
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Y phần đất có diện tích 118.8m² trị giá 891.000.000₫ theo hình S2.
+ Giao cho anh Nguyễn Trung H phần đất có diện tích 62.5m² trị giá: 468.750.000đ theo hình S3. Ông Nguyễn Trung T được quyền sở hữu phần gian thờ có diên tích 23m² và phần sân bê tông 35.6m² do bà Nguyễn Thị Y xây dựng. Ông T có trách nhiệm trả bà Y giá trị bằng tiền là 43.382.500đ,
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Thu P đất có diện tích 62.5m² trị giá: 468.750.000₫ theo hình S4.
Đối với công trình xây dựng trên đất khác đã hết khấu hao nằm trên phần đất giao cho ai người đó được quyền sở hữu.
Hiện toàn bộ thửa đất và tài sản trên đất do bà Y quản lý. Việc phân chia quyền sử dụng đất và công trình trên đất có sơ đồ kèm theo.
Về trả chênh lệch tài sản bằng tiền:
- Bà Nguyễn Thị Y có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị T1 395.091.900đ; Trả bà Nguyễn Thị M 188.566.200₫
- Ông Nguyễn Trung T có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị M 206.525.700đ và trả bà Nguyễn Thị L1 (L) 38.132.400đ.
- Anh Nguyễn Trung H có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị L1 (Lin) số tiền 195.552.200đ;
- Bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị L1 (L) số tiền 161.408.100đ.
Anh H được quyền sở hữu 01 cây na, 01 cây bưởi và 02 cây nhãn và có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Y số tiền 2.850.000đ.
Bà Nguyễn Thị T2 được quyền sở hữu 02 cây nhãn có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Y 2.000.000₫.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành không chịu thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Đối với kháng cáo yêu cầu chia thừa kế đất nông nghiệp các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác và Tòa án sẽ xem xét giải quyết khi đương sự có yêu cầu.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Trung T không phải nộp án phí phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị M. bà Lê Thị T3. Anh Nguyễn Trung H phải chịu 16.339.800đ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với kỷ phần thừa kế anh được hưởng và anh Đ và chị H1 nhường cho.
4. Các quyết định khác của bản án dân sự không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Tăng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Chu Tuấn Vương | Nguyễn Thị Kim Hằng | Hoàng Hữu Tăng |
15
Bản án số 118/2025/DS-PT ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp về thừa kế tài sản quyền sử dụng đất
- Số bản án: 118/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
