|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG Bản án số: 11/2026/HS-ST Ngày 21-01-2026 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hoàng Đắc Hân
Bà Ngô Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Minh A - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2001, tại Hải Phòng; số định danh cá nhân 031201003959. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Trần Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không; tạm giữ ngày 08-7-2025; tạm giam ngày 11-7-2025; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn D, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Trần Văn Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy Cần sa, ngày 30-6-2025, Phạm Văn T vào ứng dụng T3 thấy có tài khoản “Trúc Trương” (không rõ thông tin, lai lịch) nên T gọi qua ứng dụng hỏi mua 10 gam ma túy cần sa với giá 1.800.000 đồng. Người này đồng ý bán và gửi số tài khoản để cho T chuyển tiền (T không nhớ số tài khoản). Sau đó T đi ra quán điện thoại (T không nhớ quán tên gì, địa chỉ ở đâu) gặp một người đàn ông ở trong quán rồi T nhờ chuyển 1.800.000 đồng vào số tài khoản của “Trúc Trương”, người này đồng ý chuyển tiền cho T. Sau khi nhận được tiền, “Trúc Trương” hẹn T sẽ giao ma túy tại khu vực V cầu B, thành phố Hải Phòng. Khoảng hai ngày sau, T ra địa điểm đã hẹn gặp một người đàn ông không quen biết giao ma túy cho T. Nhận được ma túy, T đi về nhà và đã sử dụng hết một phần, phần còn lại T vẫn cất giấu tại phòng ngủ. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 04-7-2025, Đỗ Văn T2 liên lạc qua ứng dụng Zalo tên “Đỗ T2” tới tài khoản Z “Trườnghp” của T hỏi mua ma túy cần sa. T đồng ý bán cho T2 1.000.000 đồng tiền ma túy cần sa và 100.000 đồng tiền công để chuyển ma túy cho T2. T cho số tài khoản 888080401888 Ngân hàng MB của T để T2 chuyển tiền. T2 đã chuyển số tiền 1.100.000 đồng mua ma túy cho T. Khoảng 30 phút sau, T đi đến chỗ T2 đang làm thuê tại quán điện thoại của ông Trần Văn Đ, sinh năm 1996 ở tổ dân phố Q, phường T, thành phố Hải Phòng giao 01 gói ma túy cần sa cho T2. Đêm ngày 06-7-2025, tại quán điện thoại của ông Trần Văn Đ, T2 bỏ hết số ma túy cần sa ra một mình sử dụng bằng hình thức hút qua điếu cày. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/7/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H nhận được phản ánh của người dân về việc Đỗ Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cần sa bằng điếu cày ở trước cửa quán điện thoại ông Trần Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành xác minh, làm việc với Đỗ Văn T2. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, T2 khai nhận toàn bộ việc mua ma túy cần sa của T mục đích để sử dụng và tự nguyện giao nộp 01 điếu cày, trên nõ điếu còn bám dính thực vật khô, vụn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15Pro (đã qua sử dụng). Đến 22 giờ cùng ngày, Phạm Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung nêu trên. T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s (đã qua sử dụng).
Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Đỗ Văn T2 và Phạm Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan tới vụ án.
Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử đối với Đỗ Văn T2, Phạm Văn T ngày 08-7-2025 đều cho kết quả dương tính với ma túy cần sa.
Tại Kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 11-7-2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “thực vật khô vụn bám dính trong 01 nõ điều thu giữ của Đỗ Văn T2 là ma túy, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa), không đủ điều kiện để xác định khối lượng ma túy bám dính trên”.
Tại Cáo trạng số: 62/CT-VKSKV1 ngày 24-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố bị can Phạm Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 430MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan bên trong chứa 01 nõ điếu sau giám định, 01 điếu cày đã bị tháo nõ điếu; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s (đều đã qua sử dụng). Truy thu của bị cáo số tiền 1.100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 04-7-2025, tại quán điện thoại của ông Trần Văn Đ ở tổ dân phố Q, phường T, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn T đã có hành vi bán trái phép ma túy cần sa cho Đỗ Văn T2. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác đối với bị cáo.
[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn
ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Thấy rằng, bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Đối với 01 bì giấy có dấu niêm phong số 430MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan bên trong chứa 01 nõ điếu sau giám định; 01 điếu cày đã bị tháo nõ điếu là vật liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro thu giữ của Đỗ Văn T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s (đều đã qua sử dụng) thu giữ của Phạm Văn T là vật bị cáo và Đỗ Văn T2 sử dụng để giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Đối với số tiền 1.100.000 đồng bị cáo được hưởng lợi từ việc bán ma tuý cho Đỗ Văn T2. Thấy rằng, số tiền 1.100.000 đồng này là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp số tiền 1.100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
[11] Đối với việc Phạm Văn T và Đỗ Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng nhân thân của T và T2 chưa bị đưa đi cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[12] Đối với ông Trần Văn Đ là chủ quán điện thoại, thuê T2 bán điện thoại nhưng không biết việc T2 mua và sử dụng trái phép chất ma túy tại quán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.
[13] Đối với đối tượng có tên “Trúc Trương” trong ứng dụng T3 đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T, hiện chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[14] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08-7-2025.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt tiền bị cáo Phạm Văn T 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 430MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan bên trong chứa 01 nõ điếu sau giám định, 01 điếu cày đã bị tháo nõ điếu; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s (đều đã qua sử dụng) theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24-12-2025 giữa Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải nộp số tiền 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hữu Hường |
Bản án số 11/2026/HS-ST ngày 21/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 11/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Trường - Mua bán trái phép chất ma tuý
