Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ


Bản án số: 11/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13/01/2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thái, Ông Huỳnh Văn Lơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phùng S, sinh ngày 01/01/1989 (Vắng mặt)
    Số căn cước công dân: E, cấp ngày 19/04/2021
    Địa chỉ: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn: Chị Lê M, sinh ngày 01/01/1993 (Vắng mặt)
    Số căn cước công dân: T, cấp ngày 19/04/2021
    Địa chỉ: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 17/11/2025, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Phùng S trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị Lê M được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới, sau đó đến ngày 05/4/2016 anh và chị M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh S (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C), và được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi cưới thì hai vợ chồng anh sống tại nhà mẹ ruột anh tại ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh S. Trong cuộc sống vợ chồng anh có nhiều mâu thuẫn với nhau, anh thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau như vợ chồng được nữa do anh đi chấp hành án, chị M ở nhà đưa con đi học rồi bỏ nhà đi luôn, anh và chị M đã ly thân với nhau từ tháng 9/2015 đến nay. Cho nên anh S yêu cầu được ly hôn với chị Lê M.

Về con chung: anh và chị Lê M có hai con chung là cháu Phùng H, sinh ngày 03/5/2012 và Phùng D, sinh ngày 11/5/2015, hiện nay các cháu đang sống chung với anh, anh S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn: anh S không yêu cầu xem xét.

Anh S xin được xét xử vắng mặt vì bận đi làm ăn xa nên không có thời gian để tham gia phiên tòa.

2/ Bị đơn chị Lê M: Chị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phùng S nhưng chị M không có ý kiến phản đối, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.

3/ Ý kiến nguyện vọng của hai cháu Phùng H, sinh ngày 03/5/2012 và Phùng D, sinh ngày 11/5/2015: Các cháu đều có nguyện vọng muốn sống chung với cha anh Phùng S sau khi cha mẹ ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Phùng S khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với chị Lê M cư trú tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. Nên Tòa án xác định loại kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về vắng mặt đương sự: Nguyên đơn anh Phùng S vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn chị Lê M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng S và chị Lê M là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 05/4/2016 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh S (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị M là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa anh S và chị M, theo anh S cho rằng hiện nay anh S và chị M xảy ra mâu thuẫn anh thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau như vợ chồng được nữa do anh đi chấp hành án, chị M ở nhà đưa con đi học rồi bỏ nhà đi luôn, anh và chị M đã ly thân với nhau từ tháng 9/2015 đến nay. Cho nên anh S yêu cầu được ly hôn với chị Lê M. Chị M không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của anh S. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của anh S và chị M đã không còn sự quan tâm, thương yêu dành cho nhau, không còn tin tưởng nhau, anh S đã ly thân với chị M từ tháng 9/2025 đến nay không thể hàn gắn, mâu thuẫn giữa anh S và chị M là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Phùng S được ly hôn với chị Lê M.

[4] Về con chung: Anh Phùng S và chị Lê M có hai con chung là cháu Phùng H, sinh ngày 03/5/2012 và Phùng D, sinh ngày 11/5/2015, các cháu hiện nay đang sống chung với anh S. Anh S yêu cầu được nuôi các cháu D và H, chị M không có ý kiến phản đối, các cháu D và H hiện nay đều đã hơn 10 tuổi và có nguyện vọng được sống chung với cha là anh S sau khi cha mẹ ly hôn với nhau. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa anh S và chị M không thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định về việc giao con cho ai nuôi dưỡng. Do các cháu D và H hiện nay đã hơn 10 tuổi, có nguyện vọng sống chung với cha (anh S) sau khi cha mẹ ly hôn với nhau, hiện tại các cháu D và H được cha ruột là anh S đang nuôi dưỡng nên căn cứ vào nguyện vọng của các cháu D và H, đồng thời cần ổn định môi trường sống, ổn định tâm lý trẻ em nên quyết định giao các cháu D và H cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp về mặt tâm sinh lý của các cháu, phù hợp nguyện vọng của các cháu D và H. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho chị Lê M theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Phùng S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009871, ngày 17/11/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Chị Lê M không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng S được ly hôn với chị Lê M.

2/ Về con chung: Giao cháu Phùng H, sinh ngày 03/5/2012 và Phùng D, sinh ngày 11/5/2015 cho anh Phùng S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị Lê M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Phùng S phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Phùng S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009871, ngày 17/11/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Chị Lê M không phải chịu án phí.

5/ Quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:
- TAND thành phố Cần Thơ;
- VKSND khu vực 7 – Cần Thơ;
- Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 7 – Cần Thơ;
- Các đương sự;
- UBND xã T, TPCT;
- Lưu VT, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Thị Vàng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2026/HNGĐ-ST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger