Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NÔI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 103/2026/HNGĐ

Ngày: 22/01/2026

Về việc: Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh

Bà Tô Thị Kim Dung

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Tưởng Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân

Khu vực 6 – Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị

Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 625/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Bá Đ, sinh ngày 01/01/1984; Căn cước công dân số:

001084042839, cấp ngày 27/9/2024; Nơi thường trú: TDP Q, phường D, thành phố

Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh ngày 01/01/1986; Căn cước công dân số:

001186034655, cấp ngày 08/12/2025; Nơi thường trú: TDP Q, phường D, thành phố

Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, tại bản tự khai nguyên đơn anh Đặng Bá Đ trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng

ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường

D, thành phố Hà Nội) ngày 21/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh

phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ

chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống về nhiều vấn

đề trong cuộc sống hàng ngày. Anh đã nhiều lần cố gắng hoà giải nhưng chị C

không gặp và cắt đứt liên lạc. Vợ chồng không còn tin tưởng, quan tâm đến nhau,

nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh

được ly hôn chị Nguyễn Thị C.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thị C có 02 con chung là cháu Đặng Ngọc

D, sinh ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày 15/5/2018. Hiện con chung

đang ở cùng chị Nguyễn Thị C. Anh chị thống nhất thoả thuận sau ly hôn, giao con

chung cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh và chị Nguyễn Thị C tự thoả thuận tiền cấp dưỡng nuôi

con chung.

- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

- Về nợ chung: Anh chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Anh Đặng Bá Đ tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm

theo quy định.

Tại bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:

- Về tình cảm : Chị và anh Đặng Bá Đoàn kết H trên cơ sở tự nguyện, có đăng

ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường

D, thành phố Hà Nội) ngày 21/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh

phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị

không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, anh Đ thường xuyên

chơi cờ bạc, lô đề. Vợ chồng anh chị đã tìm cách tháo gỡ nhưng không có kết quả.

Nay anh Đặng Bá Đ có đơn xin ly hôn, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn,

nên đồng ý ly hôn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Bá Đ.

- Về con chung: Chị và anh Đặng Bá Đ có 02 con chung là cháu Đặng Ngọc

D, sinh ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày 15/5/2018. Hiện nay các

cháu đang ở cùng mẹ. Anh chị thống nhất thoả thuận sau ly hôn, giao con chung

cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu anh Đ

phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung vợ chồng: Chị và anh Đặng Bá Đ tự thỏa thuận không yêu

cầu Tòa án giải quyết

- Về công nợ chung: Chị và anh Đặng Bá Đ không có công nợ chung. Không

yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xác minh tại địa phương, đại diện Tổ dân phố Q, phường D cung cấp:

Hiện chị Nguyễn Thị C đang sinh sống cùng gia đình bố mẹ đẻ tại địa chỉ số E ngõ

I, đường L, phường D, thành phố Hà Nội. Chị C sinh sống tại địa chỉ trên từ đầu năm

2017 cho đến nay. Hiện con chung là cháu Đặng Ngọc D và cháu Đặng Thị T đang

sống cùng với mẹ là chị C, các cháu đều khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Nay anh

Đặng Bá Đ xin ly hôn chị C, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tổ

dân phố đồng ý để chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn.

Tại phiên tòa:

Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án

kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán,

Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã

thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng

dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm của nguyên đơn, bị đơn và các tài

liệu chứng cứ do Tòa án thu thập.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đặng Bá Đ, anh

Đặng Bá Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị C; Giao con chung là cháu Đặng Ngọc D, sinh

ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày 15/5/2018 cho chị Nguyễn Thị C trực

tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi

khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C tự thoả

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C không

yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Anh Đặng Bá Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của

pháp luật

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị C có địa chỉ thường trú tại TDP Q, phường

D, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng

thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng

dân sự năm 2015.

- Việc đương sự vắng mặt: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho

anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C, anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C đều có đơn

xin vắng mặt; Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử

vắng mặt anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C có đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D,

thành phố Hà Nội) ngày 21/12/2015 trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc một thời gian sau đó phát sinh mâu

thuẫn. Theo anh Đ nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, lối sống,

không có tiếng nói chung, nay tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị được ly

hôn với chị C. Chị C cũng nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn, nên

không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử xác định, tình cảm vợ chồng giữa anh

Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng cũng đã có thời gian để hàn

gắn tình cảm, tuy nhiên không thành. Nay anh Đặng Bá Đ xin ly hôn, chị C nhất trí.

Căn cứ khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp

nhận đơn xin ly hôn của anh Đặng Bá Đ.

[2.2]. Về con chung: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C thống nhất có 02 con

chung là cháu Đặng Ngọc D, sinh ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày

15/5/2018. Anh Đ và chị C thống nhất thoả thuận để chị C nuôi dưỡng và chăm sóc

con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung là cháu Đặng Ngọc

D, sinh ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày 15/5/2018 cho chị Nguyễn Thị

C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc

có sự thay đổi khác về nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ và chị C tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án

giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.3]. Về tài sản chung: Anh Đ và chị C đều không đề nghị Tòa án giải quyết

trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.4]. Về công nợ chung: Anh Đ và chị C không có công nợ chung, không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

[3]. Về án phí: Anh Đặng Bá Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Đặng Bá Đ, anh Đặng Bá Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị C.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đặng Ngọc D, sinh ngày 27/7/2016 và cháu Đặng Thị T, sinh ngày 15/5/2018 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

    Anh Đặng Bá Đoàn T1 được quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đặng Bá Đ và chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  5. Về án phí: Anh Đặng Bá Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Đặng Bá Đ đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013028 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 6 - Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - UBND phường Dương Nội, thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2026/HNGĐ ngày 22/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về hôn nhân gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 103/2026/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Đặng Bá Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger