Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 103/2026/HS-PT

Ngày 30/01/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hòa Hiệp

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/01/2026, tại điểm cầu trung tâm Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2025/TLPT-HS ngày 02/10/2025, do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ú đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn Ú, sinh năm 1991; tại tỉnh Bạc Liêu (nay là Cà Mau). Nơi cư trú: Ấp M, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị K; có vợ và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt ngày 08/4/2024 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Lê Thị Quỳnh A thuộc Công ty L1 và Cộng sự – Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

Ngoài ra, còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đến vụ Đông Xuân năm 2022, bị cáo thỏa thuận với các bị hại như sau: Đối với bị hại ông L, ông K1 và ông T4: bị cáo đưa tiền cọc trước, những người này đi mua lúa người dân, bán lại cho bị cáo để hưởng phần chênh lệch. Đối với bị hại ông T3: ông T3 thu mua 200 tấn lúa Đài thơm 8 của người dân rồi bán lại cho bị cáo để hưởng tiền chênh lệch và bị cáo giao lúa giống cho ông T3, đến khi nào kết thúc mùa lúa sẽ trừ thêm số tiền mà bị cáo đã giao lúa giống.

Sau khi thu mua lúa của các bị hại, bị cáo đem đi bán nhưng chỉ trả lại cho bị hại một phần, phần còn lại bị cáo chiếm đoạt, cắt liên lạc với bị hại và cùng gia đình bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 08 tháng 8 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Cà Mau) kết hợp với Công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là Công an xã N, tỉnh Đồng Nai) mời bị cáo làm việc bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể bị cáo đã chiếm đoạt từng bị hại như sau:

  1. Đối với ông L: bị cáo mua tổng số tiền 1.388.139.000đ, trả được 1.032.404.000đ, đặt cọc 120.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền 235.735.000đ.
  2. Đối với ông T3: bị cáo mua với tổng số tiền 2.245.454.000đ, trả được 1.345.454.000đ, đặt cọc 110.000.000đ, giao lúa giống 27.840.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền 762.160.000đ.
  3. Đối với ông K1: bị cáo mua với tổng số tiền 1.136.927.000đ, trả được 591.400.000đ, đặt cọc 130.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt 415.527.000đ.
  4. Đối với ông T4: bị cáo mua với tổng số tiền 912.292.000đ, trả cho 712.292.000đ, bị cáo chiếm đoạt 200.000.000đ.

Khi bị cáo về, vào khoảng tháng 9 năm 2023 âm lịch bị cáo thỏa thuận với ông Phan Văn N như sau: bị cáo nhận tiền đặt cọc của ông N để thu mua lúa để bán lại cho ông N hưởng lợi nhuận, bị cáo đã nhận tiền của ông N 05 lần với tổng số tiền là 460.000.000đ. Khi nhận tiền cọc của ông N, đến kỳ thu hoạch lúa bị cáo không giao lúa cho ông N như thỏa thuận, mà bán cho người khác nên đã trả lại cho ông N 224.500.000đ; quá trình điều tra chi chứng minh được những người nhận cọc bị cáo nhưng không giao lúa cho bị cáo và còn nợ bị cáo 122.000.000đ (ông T1 và ông T2 90.000.000đ; ông Đ 32.000.000đ). Như vậy, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của ông N là 113.500.000đ (460.000.000đ - 224.500.000đ - 122.000.000đ). Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 1.726.922.000đ (ông Đặng Bô L 235.735.000đ, ông Trần Văn K1 415.527.000đ, ông Diệp Văn T3 762.160.000đ, ông Lê Văn T4 200.000.000đ và ông Phan Văn N 113.500.000đ).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ú phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 4 Điều 175; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ú 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 08 tháng 4 năm 2024

Ngoài ra, bản án còn quyết định trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/8/2025 bị cáo Trần Văn Ú kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phần tranh tụng đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm như sau: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ và đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 10 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cho rằng gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại 20 triệu đồng, số tiền này so với thiệt hại bị cáo gây ra không lớn; hơn nữa cũng không cung cấp được chứng từ trả số tiền trên cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh toà án cấp sơ thẩm xét xử là có cơ sở nên không tranh tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm tội, bị cáo mong muốn tiếp tục khắc phục hậu quả cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với lời trình bày của luật sư, không tham gia tranh tụng thêm và có lời nói sau cùng là mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hoàn cảnh của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ú đối với bản án sơ thẩm đúng quy định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Thông qua hợp đồng mua bán hàng hoá (lúa), bị cáo Trần Văn Ú đã thanh toán một phần tiền; số còn lại 1.726.922.000 đồng bị cáo không thanh toán cho bị hại mà bỏ trốn, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên của bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ú phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[3]. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ú thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây mất trật tự an ninh tại địa phương, tạo dư luận xấu trong xã hội; bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác giải quyết vụ án; bị cáo phạm tội nhiều lần, đối với nhiều bị hại nên gây thiệt hại cho nhiều gia đình ở nông thôn có hoàn cảnh rất khó khăn. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội; gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và bị cáo tự nguyện dùng số tiền đang bị phong tỏa trong tài khoản để bồi thường cho bị hại nên đã khắc phục một phần thiệt hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha ruột là người có công với cách mạng; ông Lê Văn T4 và Diệp Văn T3 là bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, tuyên xử bị cáo mức hình phạt 10 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có cơ sở.

[4]. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Ú không cung cấp tài liệu mới, chứng cứ mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy lời trình bày của luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận; quan điểm của đại diện Viện công tố và xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ú; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau như sau:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ú phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 4 Điều 175; đoạn 3 khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ú 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 08/4/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn Ú 45 (bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn Ú phải chịu 200.000 đồng.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện công tố và xét xử phúc thẩm tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(đã ký)




Đặng Văn Ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2026/HS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 103/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Út phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tuyên xử Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ú; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger