|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2026/DS-PT Ngày: 29-01-2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;
Ông Đặng Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 587/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 700/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 18/2026/QĐPT-DS ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1978.
Địa chỉ: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà H: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Bị đơn:
+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984.
+ Chị Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà H, Khóm E, phường T, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1999.
Địa chỉ: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T2: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn trình bày: Vào ngày 02/10/2024 chị H có cho anh T vay số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, không ghi thời hạn vay, mục đích cho vay để anh T có vốn làm ăn, khi vay tiền anh T có viết biên nhận cho chị, chữ viết và chữ ký là của anh T. Đến tháng đóng lãi đầu tiên là 3.000.000 đồng, anh T có mượn thêm 7.000.000 đồng, anh T chuyển khoản qua cho con chị là anh Nguyễn Minh T2, sau đó anh T có mượn thêm nhiều lần, mỗi lần từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khoảng vài ngày sau anh T chuyển khoản cho anh T2 trả cho chị, các lần mượn tiền này anh T không có làm biên nhận mà chỉ tin tưởng rồi cho mượn. Đối với số tiền 150.000.000 đồng, anh T chỉ trả lãi được tháng đầu tiên, sau đó không trả lãi cũng không trả gốc.
Đối với đoạn ghi âm anh T cung cấp chị xin trình bày: Ngày hôm đó chị đang ở ngoài chợ B, tỉnh Vĩnh Long, anh T gọi điện thoại cho chị, do ở ngoài chợ đông người và nhiều tiếng ồn, nên khi nghe điện thoại có lúc nghe có lúc không. Lâu quá anh T không liên lạc trả tiền cho chị nên khi anh T gọi điện thoại chị mừng quá chỉ ừ ừ mà có lúc cũng không nghe rõ anh T nói gì. Giọng nói của người nữ trong đoạn ghi âm là của chị, chị không yêu cầu giám định giọng nói của chị trong đoạn ghi âm. Chị khẳng định chị chỉ cho anh T vay tiền lãi suất 2%/tháng, các lần sau anh T mượn tiền của chị nhiều lần chị không nhớ chính xác bao nhiêu nên khi nói qua điện thoại không nhớ chính xác bao nhiêu.
Tính đến thời điểm này, anh T còn nợ chị số tiền gốc 150.000.000 đồng, chị yêu cầu anh T trả cho chị số tiền gốc 150.000.000 đồng và tính lãi suất 1%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 02/11/2024 đến khi xét xử sơ thẩm.
Chị xin rút lại yêu cầu của chị về việc yêu cầu chị O cùng trả nợ với anh T. Chị chỉ yêu cầu anh T trả nợ cho chị. Việc anh T yêu cầu chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra chị không đồng ý vì anh T muốn kéo dài thời gian trả nợ cho chị.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Vào năm 2021, anh có vay của chị H số tiền 170.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, đã trả xong, đến khoảng cuối năm 2021 anh có vay lại số tiền 130.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, sang đầu năm 2022 trả hết nợ, khoảng tháng 2/2022 vay lại 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, đến tháng 8/2022 trả hết, tháng 9/2022 vay lại 120.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, anh đóng lãi đến tháng 01/2023, đến tháng 3/2023 trả hết.
Tháng 5/2023, vay lại 70.000.000 đồng, tháng 6/2023 vay tiếp 50.000.000 đồng, tổng cộng 120.000.000 đồng, tất cả các lần vay tiền anh có viết biên nhận nhưng do chị H giữ. Số tiền 120.000.000 đồng, trước khi làm biên nhận ngày 02/10/2024 là 150.000.000 đồng, anh còn nợ 02 tháng tiền lãi của chị H là 24.000.000 đồng, chị H đưa thêm 6.000.000 đồng tiền mặt, nên viết biên nhận tổng là 150.000.000 đồng, nhưng chị H chỉ tính lãi trên số tiền gốc là 120.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, nhưng biên nhận chỉ ghi 2%/tháng, anh đóng lãi đầy đủ cho chị H từ khi viết biên nhận cho đến ngày chị H khởi kiện, lý do chị H khởi kiện là do anh đóng lãi trễ 03 ngày.
Các lần vay tiền, tiền gốc thì anh trả cho chị H còn tiền lãi chị H yêu cầu anh trả qua tài khoản của Nguyễn Minh T2 là con ruột của chị H, anh có trả tiền lãi cho chị H 03 lần tiền mặt vào năm 2022. Lý do chị H yêu cầu anh trả qua tài khoản của T2 do chị H không có tài khoản.
Anh cam kết giữa anh và T2 không có việc vay tiền và cũng không có một giao dịch nào khác để anh phải chuyển tiền qua tài khoản cho T2.
Hiện tại, anh có 01 đoạn ghi âm, ghi âm lại cuộc nói chuyện về số tiền lãi mà anh đã đóng cho chị H, việc ghi âm vào ngày 09/01/2025, tại chợ M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, lúc đó anh là người điện thoại cho chị H để xác nhận lại số nợ, thời lượng ghi âm là 01 phút 16 giây, đoạn ghi âm không cắt ghép. Nội dung của đoạn ghi âm xác nhận có vay tiền gốc là 120.000.000 đồng, cộng 02 tháng lãi là 24.000.000 đồng và đưa thêm tiền mặt là 6.000.000 đồng, tổng cộng là 150.000.000 đồng, tiền lãi là 10%. Ngoài ra, anh có sao kê đóng lãi cho anh T2.
Theo yêu cầu của nguyên đơn anh không đồng ý, đề nghị chuyển hồ sơ qua Cơ quan điều tra vì vụ án có yếu tố hình sự: theo quy định lãi suất Nhà nước quy định 1,66%/tháng nhưng chị H cho vay 10%/tháng. Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự anh yêu cầu khấu trừ phần tiền lãi anh đã đóng cho chị H, anh không đồng ý trả tiền gốc và lãi cho chị H.
Chị Nguyễn Hoàng O trình bày: Chị là vợ anh T, việc chị H khởi kiện yêu cầu chị và anh T trả số tiền 154.500.000 đồng và tiền lãi phát sinh chị không đồng ý, việc chị H có cho anh T vay tiền hay không chị không biết, vì không nghe anh T nói, chị cũng không có gặp chị H để hỏi vay mượn tiền, chị cũng không biết anh T sử dụng vào mục đích gì nhưng không có sử dụng vào việc chi tiêu chung của gia đình, nếu có thì đây là thỏa thuận giữa chị H và anh T thì tự hai người giải quyết, chị không có ký tên trong biên nhận do chị H cung cấp. Chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Nguyễn Minh T2 trình bày: Về việc mẹ anh là bà H cho anh T vay tiền thì anh không biết, thời gian đã lâu anh không nhớ ngày tháng năm, chỉ nhớ là anh T có điện thoại cho anh nói là chuyển tiền qua tài khoản của anh để trả tiền cho mẹ anh, khi nhận tiền xong anh có về đưa tiền cho mẹ anh, do anh T trả nhiều lần nên anh không nhớ chính xác bao nhiêu lần và bao nhiêu tiền. Trong vụ án này anh không có ý kiến gì và xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi vụ án được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
Ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa: Nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chị O có trách nhiệm trả nợ cùng anh T; nguyên đơn chỉ yêu cầu anh T trả số tiền 150.000.000 đồng, tính lãi suất 1%/tháng thời gian từ 24/12/2024 đến 12/9/2025 là 08 tháng 19 ngày = 12.950.000 đồng, đồng ý khấu trừ 15.000.000 đồng bị đơn đã trả vào phần tiền lãi và gốc cho bị đơn.
Ý kiến của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn chỉ vay của nguyên đơn 120.000.000 đồng tiền gốc và 6.000.000 đồng đưa thêm, tổng cộng là 126.000.000 đồng, bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền gốc là 126.000.000 đồng, đồng ý trả tiền lãi 1%tháng, bị đơn đã trả cho nguyên đơn 03 lần tiền lãi là 15.000.000 đồng, yêu cầu khấu trừ số tiền 15.000.000 đồng vào tiền lãi và tiền gốc, trường hợp có đủ yếu tố hình sự thì chuyển sang cơ quan điều tra.
Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H về việc yêu cầu chị Nguyễn Hoàng O có trách nhiệm cùng với anh Nguyễn Văn T trả nợ cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H: Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn T trả cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H tiền gốc và lãi là: 147.950.000đ (một trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, tiền lãi chậm thi hành án, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18/9/2025, anh Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra công an để làm rõ hành vi cho vay nặng lãi của bà H (bà H cho vay lãi suất 10%/tháng); không đồng ý trả cho bà H số tiền 147.950.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Số tiền tổng cộng 15.000.000 đồng do anh T2 nhận chuyển khoản trong các ngày 03/11/2024, 15/11/2024 và 23/12/2024, bà H xác định là tiền anh T trả nợ gốc của khoản vay 150.000.000 đồng theo biên nhận viết tay ngày 02/10/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- - Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T. Sửa Bản ándân sựthẩm số 120/2025/DSngày 12/9/2025Tòa án nhân dân khu vực 1Vĩnh Long theo hướng buộc anh T trả số tiền nợ gốc 135.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng trên số tiền nợ gốc từ ngày 24/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (08 tháng 19 ngày) là 11.655.000 đồng. Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí phúc thẩm; điều chỉnh án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Nguyễn Văn T có kháng cáo và đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn chị Nguyễn Hoàng O có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị O.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra công an để làm rõ hành vi cho vay nặng lãi của chị H (chị H cho vay lãi suất 10%/tháng). Chứng cứ chứng minh do anh T cung cấp là vi bằng ghi lại nội dung đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa anh T và chị H vào lúc 10 giờ 58 phút ngày 09/01/2025 và chứng từ sao kê tài khoản, sổ phụ tài khoản thể hiện anh T có chuyển tiền trả lãi cho chị H thông qua tài khoản của anh Nguyễn Minh T2 (là con chị H). Quá trình giải quyết vụ án, chị H thừa nhận giọng nói nữ trong đoạn ghi âm là giọng nói của chị, số tiền do anh T chuyển khoản đến tài khoản của Nguyễn Minh T2 là tiền anh T trả cho chị H, đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung cuộc nói chuyện giữa anh T và chị H, anh T cho rằng chị H thừa nhận cho vay với mức lãi suất 10%/tháng như sau:
“Ông Nguyễn Văn T: Để coi là là một trăm hai, một trăm hai là mười hai triệu nè, mười hai triệu là em chuyển cho một tháng mười hai triệu, cái ba chục triệu là riêng, là em chuyển cho T2 là mấy rày là sáu triệu hả chị? Còn thiếu sáu triệu hả?
Bà Nguyễn Thị Cẩm H: Ừ.
[...]
Ông Nguyễn Văn T: Hông cái tháng trước, cái tháng trước là mười hai triệu là một trăm hai chục triệu là mười phần trăm là mười hai triệu.
Bà Nguyễn Thị Cẩm H: Là còn sáu triệu.
[...]
Bà Nguyễn Thị Cẩm H: Bây giờ mười hai triệu mới ba tây lời nữa nè.”
Xét thấy, nội dung nêu trên không thể hiện rõ chị H cho anh T vay tiền với lãi suất 10%/tháng, không có lời nói thừa nhận của chị H về mức lãi suất cho vay là 10%/tháng. Về tiền lãi, các chứng từ sao kê thể hiện anh T có chuyển khoản cho anh T2 lần lượt ngày 03/11/2024 là 5.000.000 đồng, ngày 15/11/2024 là 7.000.000 đồng và ngày 23/12/2024 là 3.000.000 đồng, tổng cộng 15.000.000 đồng. Anh T xác định số tiền 15.000.000 đồng là tiền lãi trả cho chị H. Tuy nhiên, nội dung chuyển khoản không thể hiện tiền trả lãi, không thể hiện trả lãi của khoản tiền vay nào, tại phiên toà phúc thẩm người đại diện của chị H không thừa nhận số tiền chuyển khoản này là tiền lãi. Anh T thừa nhận vay chị H 120.000.000 đồng nhưng số tiền lãi đã trả từ ngày 02/10/2024 đến ngày 23/12/2024 (03 tháng) tổng cộng 15.000.000 đồng; các lần chuyển khoản trước ngày 02/10/2024 anh T xác định là tiền trả các khoản nợ khác (đã tất nợ xong), do đó Hội đồng xét xử xét thấy số tiền 15.000.000 đồng mà anh T cho rằng là tiền lãi của khoản nợ 120.000.000 đồng thì không phù hợp với mức lãi suất 10%/tháng như anh T trình bày. Mặt khác, số tiền lãi 15.000.000 đồng cũng không đủ định lượng số tiền thu lợi bất chính của tội cho vay lãi nặng theo quy định Bộ luật Hình sự là 30.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm có thông báo về việc đối chất giữa chị H và anh T để làm rõ khoản tiền vay và tiền lãi đã đóng nhưng anh T vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nhận thấy vụ việc không có dấu hiệu tội phạm, kháng cáo của anh T về việc chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2.2] Đối với kháng cáo của anh T không đồng ý trả cho chị H số tiền 147.950.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên: Chị H yêu cầu anh T trả số tiền vay gốc 150.000.000 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện do chị H cung cấp là biên nhận viết tay ngày 02/10/2024 có nội dung anh T mượn chị H số tiền 150.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh T thừa nhận chữ ký, chữ viết tại biên nhận ngày 02/10/2024 nêu trên là chữ ký, chữ viết của anh T, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh T không thừa nhận việc vay số tiền 150.000.000 đồng theo biên nhận mà chỉ thừa nhận vay số tiền là 120.000.000 đồng, cộng với tiền lãi 02 tháng 24.000.000 đồng và số tiền chị H đưa thêm 6.000.000 đồng nên anh chỉ đồng ý trả số tiền gốc 126.000.000 đồng. Chị H không thừa nhận lời trình bày của phía anh T, anh T không cung cấp được chứng cứ chứng minh lời trình bày nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét lời trình bày của anh T. Căn cứ vào biên nhận viết tay ngày 02/10/2024 được anh T thừa nhận, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định số tiền anh T đã vay là 150.000.000 đồng. Chị H yêu cầu anh T phải trả số tiền vay 150.000.000 đồng là có căn cứ. Nhận định của Tòa sơ thẩm là phù hợp.
[2.3] Về lãi: Chị H yêu cầu anh T trả lãi số tiền vay gốc 150.000.000 đồng với lãi suất 1%/tháng thời gian từ ngày 24/12/2024 đến ngày 12/9/2025 (08 tháng 19 ngày) là 12.950.000 đồng.
Xét biên nhận vay số tiền 150.000.000 đồng ngày 02/10/2024 của anh T có nội dung thỏa thuận về lãi suất là 2%/tháng, không có thỏa thuận về thời hạn vay nên xét đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Về lãi suất, chị H xác định lãi suất vay là 2%/tháng theo biên nhận ngày 02/10/2024, tuy anh T không thừa nhận và cho rằng lãi suất chị H cho vay thực tế là 10%/tháng nhưng anh không có chứng cứ chứng minh việc đã đóng lãi với mức lãi suất 10%/tháng. Anh T thừa nhận có ký biên nhận ngày 02/10/2024, biên nhận ghi lãi suất 2%/tháng nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mức lãi suất theo thoả thuận của hai bên là 2%/tháng, tuy nhiên mức lãi suất này vượt quá mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 20%/năm là không phù hợp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu áp dụng mức lãi suất 1%/tháng để tính lãi là phù hợp với mức lãi suất theo quy định nên được chấp nhận. Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện của nguyên đơn xác định số tiền tổng cộng 15.000.000 đồng do anh T2 nhận chuyển khoản ngày 03/11/2024, 15/11/2024 và 23/12/2024 từ anh T là tiền anh T trả nợ gốc của số tiền vay 150.000.000 đồng cho chị H, do đó được trừ vào số tiền vay gốc. Số tiền nợ gốc còn lại là 135.000.000 đồng. Do anh T không thực hiện nghĩa vụ trả lãi đầy đủ nên chị H yêu cầu tính lãi từ ngày tiếp theo của ngày anh T trả tiền lần cuối (23/12/2024), cụ thể tính lãi từ 24/12/2024 cho đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm (12/9/2025) là có căn cứ. Số tiền lãi suất 1%/tháng trong thời gian từ ngày 24/12/2024 đến ngày 12/9/2025 trên nợ gốc 135.000.000 đồng là 11.655.000 đồng. Tổng cộng anh T phải trả cho chị H số tiền gốc, lãi là 146.655.000 đồng. Tại sơ thẩm, Toà án cấn trừ số tiền gốc 15.000.000 đồng mà anh T đã trả vào tổng số tiền gốc, lãi còn nợ là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét lại cho phù hợp.
[3] Xét kháng cáo là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Điều chỉnh lại án phí sơ thẩm như sau: Do anh T phải có trách nhiệm trả cho chị H số tiền gốc, lãi là 146.655.000 đồng nên anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định số tiền 7.332.750 đồng.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm H về việc yêu cầu chị Nguyễn Hoàng O có trách nhiệm cùng với anh Nguyễn Văn T trả nợ cho chị Nguyễn Thị Cẩm H.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm H.
Buộc anh Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm H số tiền vay gốc và lãi là: 146.655.000đ (một trăm bốn mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí là 7.332.750đ (bảy triệu ba trăm ba mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị Cẩm H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.862.000 đồng (ba triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001842 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Vĩnh Long).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002861 ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 102/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 102/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
