Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 19/01/2026

V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiển

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Đặng Tấn Đức

2.Bà Trần Quang Cảnh

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại Cơ sở 01, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 483/2025/HNST ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1732/2025/QĐXXST-HN ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1785/2025/QÐST-HN ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H – sinh năm 1986, CCCD số 038186000617 ngày cấp 10/7/2021; Địa chỉ : B N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Bạch Y.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1978; CCCD số 038078026342 ngày cấp 10/7/2021; Thường trú: B N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh

(Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị H; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị Bạch Y – có Đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn H1 – có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13/8/2025, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày nội dung chính như sau: Bà và ông Nguyễn Văn H1 tự nguyện chung sống 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã C, tỉnh Thanh Hóa) từ năm 2009. Về quan hệ hôn nhân: Do vợ chồng không cùng quan điểm, ông H1 không chia sẽ khó khăn kinh tế, bỏ mặc bà phải tự lo mọi việc từ nuôi dạy con cái, kinh tế gia đình. Bên cạnh đó, ông H1 có lời lẽ xúc phạm nặng nề đến bà và gia đình bên vợ nên bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông H1, bà yêu cầu được ly hôn với ông H1. Về con chung : bà và ông H1 có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010, hiện nay con chung đang cư ngụ cùng ông bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác : bà yêu cầu tự giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập cho bị đơn ông Nguyễn Văn H1 để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn H1 đều vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được. Tại buổi làm việc ngày 28/11/2025, nguyên đơn bà Lê Thị H rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, cụ thể bà không yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010. Ngày 18/12/2025, ngày 31/12/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 có đến Toà án và trình bày ý kiến sau : Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Thị H, tài sản chung do ông bà tự giải quyết, ông xác nhận có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010, quyền quyết định ở với ai là do con chung, ông vẫn muốn nuôi con chung. Nếu con chung ở với bà Lê Thị H thì ông sẽ chu cấp theo khả năng công việc thu nhập của ông.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị H; người bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị Bạch Y – có Đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 trình bày ý kiến như sau: Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Thị H, tài sản chung do ông bà tự giải quyết, ông xác nhận có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010, ông không cấp dưỡng nuôi con chung vì nguyên đơn bà Lê Thị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác: ông yêu cầu tự giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Việc tiến hành trình tự tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể yêu cầu Hội đồng xét xử ghi nhận thuận tình ly hôn giữa các bên đương sự; giao con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Văn H1; về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác: do các bên đương sự yêu cầu tự thoả thuận nên không xem xét trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 46, ngày 25/12/2009 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã C, tỉnh Thanh Hóa) cấp cho các đương sự thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn H1 là quan hệ hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình. Ông Nguyễn Văn H1 có mặt tại phiên toà sơ thẩm xác nhận và tại phiếu yêu cầu xác minh, Công an phường P cho biết ông Nguyễn Văn H1 có đăng ký thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ : B N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị H; người bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị Bạch Y – có Đơn xin xét xử vắng mặt vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình : “……… 1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”. Hội đồng xét xử xét thấy: nguyên đơn bà Lê Thị H yêu cầu xin ly hôn, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của các bên đương sự.

Về quan hệ con chung : Các bên đương sự cùng xác nhận có 01 (một) người con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010. Các bên đương sự đều có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 tôn trọng quyền quyết định ở với ai là của con chung. Tại bản tự khai ngày 28/11/2025, con chung Nguyễn Thương H2 trình bày nguyện vọng được chung sống cùng bà Lê Thị H nên Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn H1 không cấp dưỡng nuôi con chung vì nguyên đơn bà Lê Thị H không yêu cầu.

Về quan hệ tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác : Các bên đương sự cùng có yêu cầu tự thoả thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, giành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về vấn đề này trong vụ án khác.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà Lê Thị H phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật P và Lệ phí năm 2016.Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: ghi nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn H1. Giấy chứng nhận kết hôn số 46, ngày 25/12/2009 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã C, tỉnh Thanh Hóa) cấp cho các đương sự không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
    • - Về con chung : giao con chung tên Nguyễn Thương H2 – sinh ngày 07/12/2010 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn H1 không cấp dưỡng nuôi con chung.
      • + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
      • + Ông Nguyễn Văn H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
      • + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
    • - Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các bên đương sự cùng có yêu cầu tự thoả thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, giành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về vấn đề này trong vụ án khác.
  2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0024352 ngày 08/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9- Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị H đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Văn H1 không phải nộp án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc buộc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Khu vực 9 – TP.HCM;
  • - Phòng THADS Khu vực 9-TP.HCM;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hiển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2026/HNGĐ-ST ngày 19/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 100/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger