|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN Bản án số: 100/2025/HS-ST Ngày 28/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hiển và ông Đoàn Minh Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025 tại Hội trường xét xử - trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 17/11/2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn T, sinh ngày 27/11/1977 tại tỉnh Hưng Yên (trước sáp nhập là tỉnh Thái Bình); Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Thôn T, phường T, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đặng Thị K (đều đã chết); Bị cáo chưa có vợ con;
Nhân thân: Từ tháng 10/1995 đến tháng 8/1997 tham gia nghĩa vụ quân sự
Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 50/2023/QĐ-TA ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên), thời gian chấp hành 01 năm kể từ ngày 05/9/2023. Tuyến chấp hành xong ngày 05/9/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/8/2025 đến ngày 10/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh H (Có mặt tại phiên toà).
-
Vũ Văn P, sinh ngày 28/10/1976 tại tỉnh Hưng Yên (trước sáp nhập là tỉnh Thái Bình); Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Thôn B, phường T, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Vũ Văn Đ (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; Có vợ: Trần Thị Y và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 18/2023/QĐ-TA ngày 10/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên) đối với Vũ Văn P, thời gian chấp hành 18 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. P chấp hành xong ngày 22/6/2025.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/8/2025 đến ngày 10/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh H (Có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
- + Anh Đặng Văn T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn H, phường T, tỉnh Hưng Yên
- + Anh Phạm Ngọc H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn N, phường T, tỉnh Hưng Yên
(Những người chứng kiến đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 04/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Vũ Văn P gọi điện cho Nguyễn Văn T nói: “Lấy hộ một cái anh em mình chơi chung, hẹn ở cầu V”. Tuyến hiểu ý P bảo T đi mua một gói ma túy Heroine để P và T sử dụng chung, nên T đáp: “Ừ” và hẹn nhau ở cầu V. Sau đó T chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 (một) xilanh và 01 (một) ống NOVOCAIN có sẵn ở nhà, cho vào trong túi quần bên phải phía trước của mình đang mặc, rồi đi bộ từ nhà ra khu vực cầu V đã hẹn với P. Còn P bắt xe ôm của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ từ nhà đến khu vực gần cầu V thì xuống xe rồi đi bộ đến chỗ đã hẹn với T. Khi gặp nhau, P đưa cho T 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để T đi mua ma tuý, đồng thời hẹn T ra nghĩa trang V để sử dụng. T nhận tiền và cầm ở lòng bàn tay trái, sau đó T đi bộ đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn Đ, phường T, tỉnh Hưng Yên gặp một người nam giới khoảng 55 tuổi không biết tên và địa chỉ. Tuyến hỏi người nam giới này “Anh có heroine bán không”, người nam giới nói “Mua bao nhiêu”. Tuyến nói “Bán cho em 250.000 đồng”. Đồng thời, T đưa cho người này 250.000 đồng, người nam giới nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói giấy màu trắng. T nhận lấy và cầm ở lòng bàn tay trái của mình sau đó đi bộ ra nghĩa trang V nơi P đang đứng chờ. Khi gặp nhau, P và T đi sâu vào trong nghĩa trang để tìm chỗ sử dụng ma tuý thì bị Công an phường T phát hiện có nghi vấn liên quan đến ma túy và yêu cầu kiểm tra.
Tại đây trước sự chứng kiến của anh Đặng Văn T2 và anh Phạm Ngọc H1, T tự nguyện đưa từ lòng bàn tay trái của mình giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói được gói bằng giấy màu trắng, tổ công tác mở kiểm tra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai nhận là ma tuý Heroine do T cất giấu để T và P sử dụng chung; T tiếp tục lấy từ trong túi quần bên phải phía trước Tuyến mặc ra giao nộp 01 (một) xilanh và 01 (một) lọ nước cất có chữ màu đỏ “NOVOCAIN” đều chưa qua sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong số ma tuý trên. Kiểm tra người Tuyến thu tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A18, vỏ màu xanh đã qua sử dụng; kiểm tra người Phong thu tại túi quần bên phải phía trước P đang mặc 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A06, vỏ màu xanh đen đã qua sử dụng, ngoài ra không phát hiện thu giữ gì thêm. Sau đó tổ công tác đã đưa vật chứng, tài sản, yêu cầu Nguyễn Văn T, Vũ Văn P và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trần Lãm lập các thủ tục theo quy định pháp luật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, Vũ Văn P, kết quả khám xét không phát hiện thu giữ gì. Công an đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T và Vũ Văn P để test nước tiểu bằng que test 4 chân phát hiện Vũ Văn P và Nguyễn Văn T dương tính với ma túy Heroine. Vũ Văn P thừa nhận ngày 01/8/2025 có sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng thuộc thôn B, phường T, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Văn T thừa nhận ngày 01/8/2025 có sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng thuộc thôn T, phường T, tỉnh Hưng Yên.
Kết luận giám định số 770/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy; loại Heroine, có khối lượng 0,1943 gam (Không phảy một nghìn chín trăm bốn mươi ba gam). Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ (Bút lục số 62);
Kết luận giám định số 6149/KL-KTHS ngày 19/8/2025 của V1 Bộ C1 có Kết luận giám định: Tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy heroine (H2) trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn T và Vũ Văn P gửi giám định (Bút lục số 65);
Cáo trạng số 27/CT-VKSVT ngày 11/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Hưng Yên giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/8/2025. Xử phạt bị cáo Vũ Văn P từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo T được hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong số B770/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H và dụng cụ chuẩn bị để sử dụng ma tuý; Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động quản lý của các bị cáo. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 20 giờ 45' ngày 04/8/2025 tại trụ sở Công an phường T, tỉnh Hưng Yên; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường T lập ngày 04/8/2025; Biên bản lấy mẫu nước tiểu và niêm phong; Biên bản làm việc về việc kiểm tra điện thoại; Kết luận giám định số 770/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H; Kết luận giám định số 6149/KL-KTHS ngày 19/8/2025 của V1 Bộ C1; Lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, tại khu vực nghĩa trang V thuộc địa phận thôn Đ, phường T, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an phường T, tỉnh Hưng Yên phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1943 gam và Vũ Văn P là người đưa cho Nguyễn Văn T số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) để đi mua ma tuý mục đích để cùng nhau sử dụng.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15 được Quốc Hội thông qua ngày 25/6/2025.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt các bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Vũ Văn P là người rủ rê và đưa tiền cho bị cáo T đi mua ma tuý, bị cáo T là người trực tiếp đi mua ma tuý và còn chuẩn bị công cụ mục đích để cùng sử dụng ma tuý. Vì vậy đánh giá hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đều đã chấp hành xong. Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo không chịu tiếp thu sự giáo dục của pháp luật, không chịu cải tạo, rèn luyện bản thân để đoạn tuyệt với ma tuý, trở thành công dân lương thiện.
Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo P có ông nội là ông Vũ Văn G là Liệt sỹ, có mẹ là bà Nguyễn Thị H đã có thời gian tham tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và có con gái Vũ Lan A1 thuộc đối tượng người khuyết tật đặc biệt nặng dưới 16 tuổi và đang được trợ cấp xã hội hàng tháng theo Quyết định số 2094/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 của Ủy ban nhân dân huyện K nên các bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy các bị cáo đều lao động tự do, không có thu nhập ổn định, tàng trữ ma tuý để sử dụng, hoàn cảnh bị cáo có nhiều khó khăn (bị cáo T bị HIV, bị cáo P có con bị khuyết tật đặc biệt nặng), nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy quản lý của bị cáo Nguyễn Văn T hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, 01 xi lanh và 01 ống Novocain Tuyến chuẩn bị để sử dụng ma tuý, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 vỏ màu xanh đen (đã qua sử dụng) quản lý của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A06 vỏ màu xanh đen (đã qua sử dụng) quản lý của Vũ Văn P, là công cụ các bị cáo sử dụng liên lạc với nhau để bàn bạc việc mua ma tuý, cần tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước.
[8] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn T vào ngày 04/8/2025 : bị cáo T khai mua của người nam giới không quen biết, khoảng 55 tuổi tại khu vực đường liên thôn Đ, phường T, tỉnh Hưng Yên, bị cáo không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với người lái xe ôm chở Vũ Văn P vào ngày 04/8/2025, bị cáo P khai không biết tên tuổi, địa chỉ người này và cũng không nói cho người này biết là chở bị cáo đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Vũ Văn P là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 23/6/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay Công an phường T, tỉnh Hưng Yên quản lý), thời gian từ 22/6/2025 đến 22/6/2027. Nguyễn Văn T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 209/QĐ-UBND ngày 15/9/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, thành phố T (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên), thời gian từ 05/9/2024 đến 05/9/2026. Ngày 01/8/2025 Vũ Văn P và Nguyễn Văn T đã sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng của từng người. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đều có dấu hiệu của tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để xác minh, xử lý theo quy định.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 04/8/2025. Xử phạt bị cáo Vũ Văn P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 04/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn T 01 xi lanh, 01 ống Novocain và 0,1250 gam ma túy loại Heroine cùng bao gói được hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số B770/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H để tiêu huỷ.
Tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 vỏ màu xanh đen (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A06 vỏ màu xanh đen (đã qua sử dụng) của Vũ Văn P. (Các vật chứng đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hưng Yên quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2025).
-
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Vũ Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 100/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 100/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tuyến và đồng phạm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
