Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HS-ST

Ngày 21-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đắc Hân

Bà Ngô Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Minh A - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1986, tại Hải Phòng; số định danh cá nhân 031086010146. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, Phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Lê Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 31/2021/HS-ST ngày 26-3-2021 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-01-2022, đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 26-3-2021 (đã xoá án tích); tạm giữ ngày 14-9-2025; tạm giam ngày 19-9-2025; có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Trung T2; vắng mặt;
  2. Ông Nguyễn Đức H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14-9-2025, Nguyễn Văn T một mình điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15B2-268.39 đi từ nhà sang khu vực đường tàu Hải Phòng mua ma tuý đá để sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết một túi 01 túi nilon ma tuý đá với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T cất vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Trên đường về, T vào quán tạp hoá mua một chai nước uống và nhặt được một chiếc ống hút làm bằng nhựa màu tím, có sọc trắng ở ngoài đường. Khi về đến khu vực nghĩa trang ở gần nhà, T cho một phần ma tuý vừa mua được vào trong ống nhựa rồi dùng bật lửa hàn 2 đầu ống lại, phần ma tuý còn lại vẫn để trong túi nilon. T để toàn bộ số ma tuý này vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến khu vực Tổ dân phố M, phường L, thành phố Hải Phòng thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T 01 túi nilon màu trắng, có viền khóa màu trắng kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 ống nhựa màu tím, có sọc trắng chiều dài 06cm, 2 đầu được hàn kín bên trong chứa ma tuý và 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15B2-268.39.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T, Cơ quan Công an không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 940/KL-KTHS ngày 18-9-2025 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng trong túi nilon là ma tuý, có khối lượng 0,09 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa màu tím là ma tuý, có khối lượng 0,30 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 15-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 940MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,20 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Ngày 14-9-2025, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,39 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang tại khu vực Tổ dân phố M, phường L, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông Nội Nguyễn Văn C được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương kháng chiến hạng nhì, có bà nội Nguyễn Thị C1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, có bác Nguyễn Trung C2 là liệt sỹ. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần coi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác đối với bị cáo.

[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Đối với 01 phong bì niêm phong số 940MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,20 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với xe mô tô Biển kiểm soát 15B2-268.39. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thanh H1 (là bác họ của bị cáo). Ông H1 không biết, không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô Biển kiểm soát 15B2-268.39 cho ông H1.

[11] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo vào ngày 14-9-2025 tại khu vực đường tàu Hải Phòng, Cơ quan điều tra không xác minh được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.

[12] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14-9-2025.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 940MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,20 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-12-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 1 - Hải Phòng;
  • - Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - THADS TP. Hải Phòng;
  • - Trại giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hữu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/HS-ST ngày 21/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 10/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tùng - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger