|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13 -01 - 2026
“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Ngọc Quế
- Ông Phạm Sơn Điền
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Lê Thị Cẩm Q, sinh ngày 27/12/2001; địa chỉ: ấp T, xã K, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 24/11/2025).
2. Bị đơn: ông Trần Tấn K, sinh năm 1998; địa chỉ: số E, khóm L, phường L, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 02/12/2025).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm Q trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K sống chung vào năm 2022, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T (nay là phường L), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 63/2024, cấp ngày 07/8/2024.
Cuộc sống chung có hạnh phúc đến tháng 03/2025 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cải vã, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống với nhau từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Lê Thị Cẩm Q yêu cầu ly hôn với ông Trần Tấn K.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K có một con chung tên: Trần Lê Gia K1, sinh ngày 25/11/2023, hiện đang do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Lê Thị Cẩm Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Tấn K có lời khai trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Tấn K thống nhất với lời trình bày của bà Lê Thị Cẩm Q về điều kiện, thời gian kết hôn, cũng như nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và xác định vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 03/2025 đến nay. Ông Trần Tấn K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Cẩm Q.
- Về con chung: ông Trần Tấn K và bà Lê Thị Cẩm Q có một con chung tên: Trần Lê Gia K1, sinh ngày 25/11/2023, hiện đang sống chung với bà Q. Ông K đồng ý giao con chung cho bà Q được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: ông Trần Tấn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- An Giang:
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K.
- Về con chung: Giao con chung Trần Lê Gia K1, sinh ngày 25/11/2023 cho bà Lê Thị Cẩm Q được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Trần Tấn K không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: các đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Cẩm Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Tấn K, bị đơn đăng ký thường trú tại: khóm L, phường L, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
[1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K sống chung vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T (nay là phường L), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 63/2024, cấp ngày 07/8/2024 là hôn nhân hợp pháp.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến tháng 03/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống của vợ chồng không hạnh phúc nên bà Q và ông K đã không còn chung sống từ tháng 03/2025 cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên bà Q yêu cầu ly hôn với ông K, ông K nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà Q. Xét thấy, bà Q và ông K tự nguyện thuận tình ly hôn, Hội đồng xét xử công nhận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K là có căn cứ theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K có một con chung tên: Trần Lê Gia K1, sinh ngày 25/11/2023. Ông K đồng ý giao con chung cho bà Q được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bà Q không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thỏa thuận nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con của bà Q và ông K là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận việc thỏa thuận nuôi con chung của bà Q và ông K, giao cháu Trần Lê Gia K1 cho bà Q được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông K không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Thị Cẩm Q cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Tấn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K.
Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2024 ngày 07/8/2024 của Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T (nay là phường L), tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Lê Gia K1, sinh ngày 25/11/2023 cho bà Lê Thị Cẩm Q được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Trần Tấn K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Thị Cẩm Q cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Tấn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K mỗi người phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Q tự nguyện nộp thay số tiền 150.000 đồng cho ông Trần Tấn K. Bà Lê Thị Cẩm Q phải chịu tổng cộng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000(ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004787 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
5. Về quyền kháng cáo: bà Lê Thị Cẩm Q và ông Trần Tấn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Sang |
6
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Sang |
7
8
Bản án số 10/2026/HNGĐ-ST ngày 13/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 10/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm Quyên và ông Trần Tấn Kiệt. Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2024 ngày 07/8/2024 của Ủy ban nhân dân phường Long Phú, thị xã Tân Châu (nay là phường Long Phú), tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị Cẩm Quyên và ông Trần Tấn Kiệt không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Giao cháu Trần Lê Gia Khôi, sinh ngày 25/11/2023 cho bà Lê Thị Cẩm Quyên được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Trần Tấn Kiệt không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
