Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 10/2026/DS-ST

Ngày: 10/01/2026

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng và ông Đàm Công Lưu .

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2025/TLST- DS ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đặng Văn M, sinh năm 1989 (Có mặt) và bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1990 (Có mặt); Cùng trú tại: Đ, phường K, tỉnh Bắc Ninh.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Đặng Văn M, sinh năm 1989; Cùng trú tại: Đ, phường K, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1976. Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (Ông C, bà O vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là ông Đặng Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy N trình bày: Do có mối quan hệ họ hàng nên ông Đặng Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy N có cho vợ chồng ông Nguyễn Đình C, bà Nguyễn Thị O vay tổng số tiền 975.000.000 đồng, thể hiện tại giấy nhận nợ ngày 21/2/2024 do ông M viết với nội dung: Ngày 12/8/2022 ông M có cầm 01 mảnh đất cho Ngân hàng và ông M có cho vợ chồng ông bà C, O mượn số tiền là 500.000.000 đồng và 1 thẻ ngân hàng 100.000.000 đồng, tiền ông M bán xe là 170.000.000 đồng, tiền ông M đi vay hộ là 150.000.000 đồng, tiền đóng lãi của ngân hàng 6 tháng là 55.000.000 đồng. Tổng ông bà C, O có mượn của vợ chồng ông M, bà O là 975.000.000 đồng, vợ chồng ông bà Chư O1 có hẹn vợ chồng ông M 3 tháng sau khi chốt nợ sẽ thanh toán toàn bộ số tiền ông bà Chư Oanh vay của vợ chồng ông M, bà N. Nếu đến hạn ông bà Chư O1 không thanh toán cho vợ chồng ông M, bà N thì sẽ chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật, chữ ký tại phần người vay là của ông Nguyễn Đình Chư . Tuy nhiên sau 3 tháng kể từ khi nhận nợ, ông C, bà O1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận tại giấy nhận nợ với ông M, bà N. Vợ chồng ông M, bà N có đến nhà ông C, bà 01 để đòi tiền nhưng ông C, bà 01 không trả. Vì vậy, vợ chồng ông M, bà N khởi kiện, buộc vợ chồng ông C, bà 01 trả cho vợ chồng ông M, bà N tổng số tiền 975.000.000 đồng và không yêu cầu trả tiền lãi. Tại Phiên tòa hôm nay ông M bà N chỉ yêu cầu ông C phải trả số tiền 975.000.000 đồng và không yêu cầu trả tiền lãi.

Bị đơn là ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị O đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông C, bà O không hợp tác, nên Tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án theo đúng quy định của pháp luật nhưng do bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được, vì vậy Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu ông C phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 975.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 và Điều 351 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Đình C phải trả cho ông Đặng Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền 975.000.000 đồng. Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại khoản tiền đã vay theo hợp đồng. Vì vậy, đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu khởi kiện: Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã thụ lý vụ án. Tại giấy vay tiền thỏa thuận về thời hạn thanh toán là 03 tháng kể từ khi viết giấy nhận nợ (ngày 21/2/2024). Ngày 24 tháng 10 năm 2025 Tòa án thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án đến khi Tòa án ra Bản án không có đương sự nào đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu. Căn cứ vào Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét “giấy nhận nợ ngày 21/2/2024”, Hội đồng xét xử thấy: Tại giấy nhận nợ có ghi thời hạn thanh toán, không ghi lãi suất. Đây là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn được quy định tại Điều 470 Bộ luật dân sự. Giấy nhận nợ do ông Mạnh V, chữ ký tại phần người vay là của ông Nguyễn Đình Chư . Vì vậy, việc ông C vay tiền của vợ chồng ông M, bà O đã có xác nhận bằng giấy nhận nợ 21/2/2024. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc ký giấy mượn tiền được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về hợp đồng vay tài sản nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Ông C đã nhận đầy đủ tiền nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền cho ông M, bà N theo thỏa thuận. Ông M, bà N đã đòi nhiều lần nhưng ông C, bà O không trả tiền.

Mặt khác, quá trình tố tụng, bị đơn không cung cấp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được xem là từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh nên phải chịu hậu quả của việc không đưa ra chứng cứ chứng minh đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông M, bà N không yêu cầu ông C phải trả lãi. Xét thấy, yêu cầu này của ông M, bà N là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn M và bà Nguyễn Thị Thúy N về việc buộc ông Nguyễn Đình C phải trả số tiền 975.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, 470, 351 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Đình C phải trả cho ông Đặng Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền 975.000.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Án phí: Ông Nguyễn Đình C phải chịu 41.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả ông Đặng Văn M, bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền 20.600.000 đồng đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002139 ngày 21/10/2025.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 7- Bắc Ninh;
  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - BN;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Tạ Hữu Hiển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/DS-ST ngày 10/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 10/2026/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mạnh, Ngoan - Chư Oanh TCHĐVTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger