|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/DS-ST
Ngày 09-6-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm, ông Nguyễn Xuân Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng – Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-DS ngày 11/6/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QÐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý Hồ T, sinh năm 1965 (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Cùng nơi cư trú: khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà L: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn Khắc Khoan, xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: Ông Nông Ngọc C, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Bà Ma Thị L1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn Cầu Sắt, xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nông Hữu N, sinh năm 2003, (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lý Hồ T và bà Phạm Thị L trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên chúng tôi có cho vợ chồng ông Nông Ngọc C, bà Ma Thị L1 vay tiền trong 03 lần như sau:
- Ngày 07/5/2018 âm lịch (tức ngày 20/6/2018 dương lịch) vợ chồng ông Nông Ngọc C và bà Ma Thị L1 có đến nhà vợ chồng tôi vay số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), chúng tôi thỏa thuận tính lãi suất bằng lời nói là 3%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do bà Ma Thị L1 viết, bên dưới giấy vay bà L1, ông C ký vào giấy vay, thời gian trả nợ vào ngày 07/3/2019 âm lịch. Khi vay chỉ có vợ chồng tôi với vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 và không có người làm chứng. Chúng tôi giao tiền cho vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 tại nhà của vợ chồng tôi tại khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Đến hẹn trả nợ nhưng vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 không trả cho chúng tôi số tiền nào cả, chúng tôi có xuống nhà đòi nợ nhiều lần nhưng không được.
- Ngày 17/5/2018 âm lịch ông C có gọi cho vợ chồng tôi bảo có việc bận nên không xuống nhà chúng tôi được nhưng có vợ là bà Ma Thị L1 và con trai là Nông Hữu N đến nhà để mượn số tiền là 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu) đồng, mục đích để cho con lấy tiền xuống S đóng học, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 3%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do bà Ma Thị L1 viết và con trai là Nông Hữu N có ký tên vào giấy mượn tiền, hẹn thời gian trả nợ là ngày 17/4/2019 âm lịch. Khi vay chỉ có vợ chồng tôi với mẹ con bà Ma Thị L1 và không có người làm chứng. Chúng tôi giao tiền cho mẹ con bà Ma Thị L1 tại nhà của vợ chồng tôi. Đến hẹn trả nợ nhưng vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 không trả cho chúng tôi số tiền nào cả.
- Ngày 23/6/2018 âm lịch (tức ngày 04/8/2018 dương lịch) vợ chồng ông C và bà Ma Thị L1 có đến nhà vợ chồng tôi mượn số tiền là 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 3%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do bà Ma Thị L1 viết và ông C ký vào giấy vay mượn, thời gian trả nợ vào ngày 23/4/2019 âm lịch. Khi vay chỉ có vợ chồng tôi với vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 và không có người làm chứng. Chúng tôi giao tiền cho vợ chồng ông Nông Ngọc C, bà Ma Thị L1 tại nhà của vợ chồng tôi. Đến hẹn trả nợ nhưng vợ chồng ông C, bà Ma Thị L1 không trả cho chúng tôi số tiền nào cả.
Tổng cộng số tiền ông C, bà L1 vay của chúng tôi là 280.000.000 đồng và chưa trả cho chúng tôi được số tiền nào cả.
Tiền lãi thì ông C, bà L1 có trả cho chúng tôi được 100.000.000 đồng rồi, cụ thể: ngày 02/7/2019 bà L1 trả cho chúng tôi được 50.000.000 đồng tiền mặt và tôi viết “giấy biên nhận” đề ngày 02/7/2019 cho bà L1 giữ; ông C trả số tiền 40.000.000 đồng theo hình thức chuyển khoản cho chúng tôi (không nhớ ngày tháng năm) và ông C trả số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản cho chúng tôi (không nhớ ngày tháng năm). Ngoài ra không trả thêm số tiền lãi nào khác.
Do đó nay chúng tôi khởi kiện yêu cầu ông C, bà Ma Thị L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho chúng tôi số tiền vay gốc còn nợ là 280.000.000 đồng và không yêu cầu tiền lãi.
Bị đơn bà Ma Thị L1 trình bày tại các biên bản lấy lời khai ngày 23/8/2024 và ngày 10/9/2024:
Về sự việc vay tiền của ông T, bà L1:
- Ngày 07/5/2018 âm lịch (tức ngày 20/6/2018 dương lịch) vợ chồng tôi có đến nhà ông Lý Hồ T và bà Phạm Thị L mượn số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 4%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do ai viết tôi cũng không nhớ nhưng vợ chồng tôi có ký tên vào giấy mượn tiền. Vợ chồng ông T và bà L trực tiếp giao tiền cho vợ chồng tôi tại nhà vợ chồng ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L tại Khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước và không có người chứng kiến, vợ chồng tôi có hẹn trả nợ vào ngày 07/3/2019 âm lịch. Trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, còn 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) đồng ông T và bà L ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 07/5/2018 đến ngày 07/3/2019.
- Ngày 17/5/2018 âm lịch tôi và con trai là Nông Hữu N có đến nhà ông Lý Hồ T và bà Phạm Thị L mượn số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 4%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do ai viết tôi cũng không nhớ. Vợ chồng ông T và bà L trực tiếp giao tiền cho tôi và con trai tôi tại nhà vợ chồng ông T, bà Phạm Thị L và không có người chứng kiến, vợ chồng tôi có hẹn trả nợ vào ngày 17/4/2019 âm lịch. Trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, còn 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) ông T và bà L ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 17/5/2018 đến ngày 17/4/2019.
- Ngày 04/8/2018 dương lịch, tức ngày 23/6/2018 âm lịch chồng tôi có đến nhà ông Lý Hồ T và bà Phạm Thị L mượn số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, lãi bằng miệng là 4%/tháng, khi vay có lập giấy viết tay do ai viết tôi cũng không biết nhưng vợ chồng tôi có ký tên vào giấy mượn tiền. Khi chồng tôi vay tiền có ký vào giấy vay nợ, rồi khoảng một thời gian tôi không nhớ rõ ngày thì ông T và bà L có mang giấy vay nợ cho tôi ký vào. Vợ chồng ông T và bà L trực tiếp giao tiền chồng tôi tại nhà vợ chồng ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L tại Khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước và không có người chứng kiến, chồng tôi có hẹn trả nợ vào ngày 23/4/2019 âm lịch. Trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, còn 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) ông T và bà L ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 23/6/2018 đến ngày 23/4/2019.
Tổng số tiền chúng tôi vay và nhận được của vợ chồng ông T bà L là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng).
Vợ chồng tôi vay tiền vào mục đích chăm sóc vườn tiêu và điều. Khi đi vay tiền thì lần đầu ngày 07/5/2018 âm lịch, tức ngày 20/6/2018 dương lịch tôi đi cùng chồng tôi là ông Nông Ngọc C, lần thứ hai là ngày 17/5/2018 âm lịch tôi đi cùng con trai là Nông Hữu N, lần thứ ba ngày 04/8/2018 dương lịch, tức ngày 23/6/2018 âm lịch thì chồng tôi đi vay vì hôm đó tôi ở nhà. Số tiền này N không được sử dụng, chỉ có tôi và ông C sử dụng. Nhưng do có Nghĩa đi cùng nên ông T, bà L yêu cầu N ký vào giấy mượn tiền ngày 17/5/2018 với tư cách cùng chứng kiến.
Từ khi vay đến nay tôi chúng tôi đã trả được tổng 120.000.000 đồng. Ngày 02/7/2019 chồng tôi là ông C đưa tiền cho vợ chồng ông T bà L số tiền là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Khoảng giữa năm 2022 chồng tôi có chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông Lý Hồ T số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng). Khoảng tháng 3/2022 ông T xuống nhà tôi tại thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước tôi có đưa ông T 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) và không viết giấy tờ gì cả. Khoảng tháng 4/2023 tôi có chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông Lý Hồ T số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng).
Số tiền 120.000.000 đồng là trả tiền vay gốc hay lãi thì do tôi hoàn cảnh khó khăn nên tôi muốn số tiền 120.000.000 đồng tôi trả là trả vào tiền vay gốc 200.000.000 đồng, còn nợ 80.000.000 đồng tiền gốc. Nhưng tôi không biết ông T, bà L trừ vào tiền vay gốc hay tiền lãi nữa.
Nay vợ chồng ông Lý Hồ T và bà Phạm Thị L yêu cầu vợ chồng tôi trả tiền nợ gốc là 280.000.000 đồng thì tôi không đồng ý, vì số tiền vợ chồng tôi trả vợ chồng ông T bà L là trả vào tiền gốc. Tôi đồng ý trả số tiền lãi chúng tôi nợ vợ chồng ông T bà L từ lúc vay cho tới khi vụ việc giải quyết xong.
Ông T, bà L khởi kiện tôi yêu cầu trả 280.000.000 đồng, vậy mặc dù tôi khai tôi chỉ vay 200.000.000 đồng và đã trả được 120.000.000 đồng rồi nhưng nếu ông T, bà L khởi kiện vậy thì tôi cũng đồng ý là 280.000.000 đồng – 120.000.000 đồng đã trả = 160.000.000 đồng tiền gốc. Tôi đồng ý trả số tiền 160.000.000 đồng này và đề nghị không tính tiền lãi nữa, nhưng do tôi khó khăn nên xin trả dần.
Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Về những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L, buộc ông Nông Ngọc C và bà Ma Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L số tiền vay gốc còn nợ 280.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản do nguyên đơn ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L thực hiện quyền khởi kiện. Vì bị đơn ông Nông N1 Chúc cư trú tại xã Đ, huyện B và bà Ma Thị L1 cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn ông Nông Ngọc C và bà Ma Thị L1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Hữu N đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên tòa do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C, bà L1, ông N theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L yêu cầu bị đơn ông Nông Ngọc C và bà Ma Thị L1 có nghĩa vụ trả số tiền gốc vay 280.000.000 đồng.
- [3.1] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, ông T, bà L1 cung cấp cho Hội đồng xét xử: “giấy mượn tiền” đề ngày 17/5/2018, có chữ ký của bà Ma Thị L1, ông Nông Hữu N; “giấy mượn tiền” đề ngày 07/5/2018, có chữ ký của bà Ma Thị L1, ông Nông Ngọc C; “giấy mượn tiền” đề ngày 04/8/2018, có chữ ký của bà Ma Thị L1, ông Nông Ngọc T2.
- Xét thấy các giấy vay do nguyên đơn ông T, bà L1 cung cấp là bản gốc, không bị xé bỏ, gạch xóa; có chữ ký và viết họ tên của người vay ông C, bà Ma Thị L1, phù hợp với nội dung trình bày sự việc vay tiền của các đương sự; hợp đồng được lập rõ ràng có các thông tin thoả thuận việc vay, thể hiện sự tự nguyện giao kết hợp đồng vay giữa ông T, bà L1 và ông C, bà Ma Thị L1 để thoả thuận ông T, bà L1 cho ông C, bà Ma Thị L1 vay các số tiền 140.000.000 đồng, 70.000.000 đồng và 70.000.000 đồng, tổng cộng 280.000.000 đồng. Việc ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L cho ông C, bà Ma Thị L1 vay tiền là có thật là đúng quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của hai bên.
- [3.2] Đối với bị đơn bà Ma Thị L1 trình bày:
- “Ngày 07/5/2018 âm lịch, tức ngày 20/6/2018 dương lịch vợ chồng bà vay của nguyên đơn số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 4%/tháng, trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, còn 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) đồng ông T và bà L1 ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 07/5/2018 đến ngày 07/3/2019.
- Ngày 17/5/2018 âm lịch mượn số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, chúng tôi thỏa thuận lãi bằng miệng là 4%/tháng, trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, còn 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) ông T và bà L1 ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 17/5/2018 đến ngày 17/4/2019. Ngày 04/8/2018 dương lịch, mượn số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, lãi bằng miệng là 4%/tháng, trong giấy mượn tiền có ghi là chúng tôi mượn 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nhưng thực tế vợ chồng tôi chỉ nhận 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, còn 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) ông T và bà L1 ghi thêm để trừ luôn tiền lãi mà tôi phải đóng từ ngày 23/6/2018 đến ngày 23/4/2019.
- Tổng số tiền chúng tôi vay và nhận được của vợ chồng ông T bà L1 là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng)”. Nhưng bà Ma Thị L1 không cung cấp cho Hội đồng xét xử được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà về nội dung nguyên đơn tính gộp tiền lãi vào tiền vay gốc, cũng như không có người làm chứng sự việc, đồng thời nguyên đơn ông T, bà L1 không thừa nhận lời trình bày này, ông T bà L1 cho rằng có tính lãi cho ông C, bà L1 theo mức lãi suất thỏa thuận bằng lời nói là 3%/tháng và yêu cầu ông C, bà Ma Thị L1 thực hiện việc trả lãi khi thanh toán tiền vay gốc đến hạn trả, do đó không có chứng cứ xác định cho việc bà Ma Thị L1 trình bày là đúng, nên cần xác định số tiền cho vay 280.000.000 đồng là tiền vay gốc.
- Về nội dung bà Ma Thị L1 trình bày đã trả một phần tiền cho ông T, bà Phạm Thị L: Bà Ma Thị L1 cho rằng: Từ khi vay đến nay tôi đã trả được tổng 120.000.000 đồng. Ngày 02/7/2019 chồng tôi là ông Nông Ngọc C đưa tiền cho vợ chồng ông T bà L1 số tiền là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Khoảng giữa năm 2022 chồng tôi có chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông Lý Hồ T số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng). Khoảng tháng 3/2022 ông T xuống nhà tôi tại thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước tôi có đưa ông T 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) và không viết giấy tờ gì cả. Khoảng tháng 4/2023 tôi có chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông Lý Hồ T số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng).
- Phần trình bày trên của bà Ma Thị L1 cơ bản được nguyên đơn ông T, bà L1 xác nhận là đúng đã nhận 100.000.000 đồng gồm các số tiền 50.000.000 đồng, 40.000.000 đồng và 10.000.000 đồng từ ông C, bà Ma Thị L1; còn đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bà Ma Thị L1 trình bày đã trả bằng tiền mặt cho ông T, bà L1 thì ông T, bà L1 không thừa nhận, cho rằng không được nhận số tiền này. Toà án đã yêu cầu bà Ma Thị L1 cung cấp chứng cứ về việc đã trả số tiền 20.000.000 đồng này cho nguyên đơn theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 20/2024/QĐ-CCTLCC ngày 05/12/2024 nhưng bà L1 không cung cấp được. Đồng thời nguyên đơn ông T, bà L1 cho rằng ông C, bà Ma Thị L1 trả số tiền 100.000.000 đồng là trả tiền lãi, không phải trả tiền vay gốc. Bà Ma Thị L1 cũng không chứng minh được là trả tiền vay gốc nên không có căn cứ chấp nhận.
- Xét hợp đồng vay giữa ông T, bà L1 và ông C, bà Ma Thị L1 có thỏa thuận trả lãi, do đó việc ông C, bà L1 trả tiền lãi cho nguyên đơn ông T, bà L1 là đúng theo sự thỏa thuận giữa hai bên.
- [3.3] Từ những nhận định trên cần xác định số tiền vay gốc 280.000.000 đồng, ông C, bà Ma Thị L1 chưa trả cho ông T, bà L1 được số tiền nào, do đó cần buộc ông C, bà Ma Thị L1 có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ 280.000.000 đồng cho ông T, bà L1 là đúng quy định pháp luật.
- Ngoài ra đối với số tiền vay gốc 280.000.000 đồng, ông T, bà L1 không yêu cầu ông C, bà Ma Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi, nên không xem xét.
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông C, bà L1 phải chịu theo quy định pháp luật do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L.
- Buộc bị đơn ông Nông Ngọc C, bà Ma Thị L1 phải liên đới có nghĩa vụ trả cho ông Lý Hồ T, bà Phạm Thị L số tiền vay gốc còn nợ 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án của người được thi hành (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm là 14.000.000 đồng bị đơn ông C, bà L phải chịu.
- Nguyên đơn ông T, bà L không phải chịu án phí. Trả lại ông T, bà L số tiền tạm ứng án phí 7.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008172 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 09/06/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
