Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN


Bản án số: 10/2026/HS-PT
Ngày 30/01/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Công B đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2025/HSST ngày 14/11/2025 của Tòa án khu vực 5 - Hưng Yên theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03A/2026/QĐXXPT-HS ngày 09/01/2026 đối với:

* Bị cáo Bùi Công B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/3/1984 tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên); nơi thường trú: Căn hộ 411 lô A1 C/c 6,4 Ha Thạnh M, khu phố A, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: Thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Hưng Yên. (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1972 (vợ ông Q); anh Phạm Công Đ, sinh năm 1996 (con ông Q); anh Phạm Ngọc Q1, sinh năm 2000 (con ông Q); đều thường trú tại: Thôn Q, xã T, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đỗ Thị T, anh Phạm Công Đ và anh Phạm Ngọc Q1 là: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: Vũ Văn H2, sinh ngày 08/8/1973; nơi thường trú: Thôn N, xã T, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Văn H2 kinh doanh vật liệu xây dựng tại bến bãi và là người điều hành hoạt động kinh doanh, trực tiếp mua sắm, sử dụng, quản lý, điều động các phương tiện vận chuyển. Năm 2022, bị cáo H2 mua 02 xe công nông loại xe ba bánh tự chế chạy bằng đầu máy nổ đặt ngang, H2 biết 02 xe này không được phép lưu thông, không có giấy kiểm định về an toàn kỹ thuật nhưng vẫn mua để chở vật liệu tại cơ sở kinh doanh của mình. H2 thuê bị cáo Bùi Công B (từ tháng 9/2025) lái các phương tiện H2 có để chở vật liệu cho khách. Sáng ngày 29/11/2024, chị Lê Thị H1 (vợ H2) nói Bằng chở xi măng, sắt thép cho khách này thì B đồng ý và điều khiển xe công nông ba bánh tự chế chạy bằng đầu máy nổ đặt ngang ra khu vực thuyền đậu cạnh bến để lấy xi măng, B điều khiển xe ba bánh chở theo ông Phạm Văn Q ngồi ở cạnh khoang thùng chở hàng. Khi B điều khiển xe ba bánh đến đoạn đường D (đường Đ) hướng từ phà S đi dốc T thuộc địa phận thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên). Do mặt đường xấu nhiều ổ gà nên khi đi đến khu vực tiếp giáp mép phải đường và lề đất bên phải có một ổ gà đo (1,8x1,3)m sâu hơn mặt đường 0,07m, do có xe ô tô đi ngược chiều nên Bằng cho xe đi sát lề đường bên phải, sau khi xe ô tô này đi qua thì B đánh lái sang trái cho xe ba bánh di chuyển vào trong lòng đường. Lúc này, do chở hàng nặng, cồng kềnh nên khi B chuyển hướng xe sang trái đã làm cho bánh sau bên phải xe rơi vào ổ gà trên đường, đồng thời bánh trước bị hất lên khỏi mặt đường, hai bánh sau bị trượt trên mặt đường. Sau đó, xe ba bánh tự chế do B điều khiển bị lật đổ nghiêng phải, đầu xe hướng mép trái đường chếch chéo về dốc T, các bao xi măng, sắt cây uốn hình chữ U, đai sắt bị đổ trên mặt đường. Ông Q bị ngã xuống đường nằm bất tỉnh, phần đầu đập xuống đường, sau đó được người dân đưa đi cấp cứu và chết hồi 08 giờ 35 phút cùng ngày trên đường đi cấp cứu.

Tại kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu của Bệnh viện Đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo: Nồng độ cồn: 0.000mg/l, âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1747/KLGĐTT-KTHS ngày 09/12/2024, Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an tỉnh H), kết luận: Ông Phạm Văn Q chết do chấn thương sọ não.

Quá trình điều tra, Vũ Văn H2 đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại ông Phạm Văn Q số tiền là 270.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2025/HSST ngày 14/11/2025 của Tòa án khu vực 5 - Hưng Yên đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công B phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; bị cáo Vũ Văn H2 phạm tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn".
  2. Về hình phạt:
    • 2.1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Công B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
    • 2.2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 262, các điểm i, b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/11/2025). Giao bị cáo Vũ Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
    • 2.3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Công B và bị cáo Vũ Văn H2.
  3. Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.

Ngày 20/11/2025 bị cáo Bùi Công B kháng cáo xin hưởng án treo

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Công B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là người làm thuê cho bị cáo H2, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã được đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt...

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người liên quan và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, bị cáo không có tranh luận gì về tội danh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Bùi Công B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Bằng không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt mức hình phạt 01 năm tù là có căn cứ và phù hợp. Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo Bùi Công B có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, ngoài ra trong vụ án này cần xem xét người bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông đã ngồi lên thùng xe không đảm bảo an toàn dẫn đến bị ngã xuống đường. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì bị cáo có đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo, do đó cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và sửa biện pháp chấp hành hình phạt của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Công B, giữ nguyên mức hình phạt và sửa biện pháp chấp hành hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2025/HSST ngày 14/11/2025 của Tòa án khu vực 5 - Hưng Yên, cụ thể:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công B phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Công B 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/01/2026

Giao bị cáo Bùi Công B cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Công B cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Bùi Công B phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

II. Về án phí: Bị cáo Bùi Công B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 30/01/2026.

Nơi nhận:
- Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên;
- Cơ quan Điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát, Tòa án khu vực 5 - Hưng Yên.
- Bị cáo kháng cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
- Lưu hành chính tư pháp.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.




Vũ Duy Luân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/HS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 10/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Công B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger