Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 10/2026/HS-PT

Ngày: 19/01/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Định.

Ông Bùi Thanh Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Lâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 233/2025/TLPT-HS ngày 05/11/2025 đối với bị cáo Dương Thị Minh T, do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo: Dương Thị Minh T, sinh năm 1995, tại Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: Số C đường C, phường B, thành phố Cần Thơ; Nơi ở: Số A đường số I, KDC E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (nay phường H, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Đình T1 và bà Nguyễn Thị Kim L; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/02/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, thuộc trại tạm giam số 1- Công an thành phố C (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh N, Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt).

- Những người không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Ân Thị Mỹ X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Thanh P, ông Nguyễn Thành T2, ông Lê Anh T3, bà Nguyễn Thị Kim L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Thị Minh T thường xuyên thuê xe ô tô tự lái của bà Ân Thị Mỹ X để sử dụng đi lại. Do cần tiền để trả lại mẹ ruột và tiêu xài cá nhân, bị cáo T nảy sinh ý định thuê xe ô tô để cầm cố lấy tiền. Ngày 29/9/2023, bị cáo T liên hệ bà Ân Thị Mỹ X thuê 01 xe ô tô biển số 66A-218.55 thỏa thuận giá 600.000 đồng/ngày, bà X kêu T đến Bến xe khách C gặp nhân viên bảo vệ để nhận xe ô tô (trên xe có sẵn giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do ông Phạm Thanh P – đồng nghiệp cùng làm nghề dạy lái xe ô tô đứng tên chủ xe). Sau khi nhận xe ô tô, T điều khiển xe đến Salon ô tô Văn C (địa chỉ số A Q, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ) gặp ông Lê Anh T3 để cầm xe lấy tiền. Ông T3 không đồng ý cầm do xe không chính chủ tên người đi cầm nhưng ông T3 cho biết nếu có ảnh chụp Căn cước công dân chủ xe và Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ xe thì sẽ đồng ý cầm giá 200.000.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe ô tô về B Cần Thơ trả lại cho bà X, đồng thời nói với ông T3 là sẽ liên hệ sau.

Theo như lời ông T3 trao đổi, ngày 30/9/2023 bị cáo T sử dụng điện thoại Iphone X truy cập mạng xã hội Facebook tìm trang Web nhận làm giả giấy tờ để đặt làm giả 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và 01 căn cước công dân tên Phạm Thanh P là chủ xe ô tô biển số 66A-218.55. Sau khi tìm được người đồng ý nhận làm giả qua mạng, bị cáo T cung cấp thông tin cá nhân ông Phạm Thanh P cho đối tượng nhận làm giả. Đến ngày 02/10/2023, T nhận được qua Zalo của đối tượng gửi đầy đủ F ảnh chụp thẻ Căn cước công dân và 01 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tên Phạm Thanh P theo yêu cầu của bị cáo T đặt. Khi có được 02 giấy trên Thủy sử dụng, chuyển file hình ảnh cho ông Lê Anh T3 để trao đổi việc cầm xe. Sau khi xem xét, ông T3 đồng ý nhận cầm xe cho T với giá 200.000.000 đồng, lãi suất 05%/tháng, thỏa thuận là Thủy sẽ làm hợp đồng ủy quyền thay cho hợp đồng cầm cố (bị cáo chịu phí).

Sau khi nhận được file ảnh do T gửi đến, ông T3 chuyển file cho người tên Trần Kim H (người làm dịch vụ giấy tờ), người tên Trần Kim H đã liên hệ Văn phòng C1 (địa chỉ: Tổ F, khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ) làm Hợp đồng ủy quyền thể hiện nội dung ông Phạm Thanh P ủy quyền cho ông Nguyễn Thành T2 (là anh vợ của ông T3) được quản lý, định đoạt đối với xe ô tô biển số 66A-218.55. Trong cùng ngày 02/10/2023, bị cáo T tiếp tục liên hệ bà X để thuê xe ô tô tự lái biển số 66A-218.55 trong thời gian 01 tuần (thỏa thuận thuê miệng, không làm hợp đồng), được bà X đồng ý. Sau khi nhận được xe, T điều khiển đến gặp ông T3 giao xe cùng giấy đăng ký xe tên Phạm Thanh P, tuy nhiên 02 bên chưa giao nhận tiền cầm xe. Chiều cùng ngày Trần Kim H đã làm xong Hợp đồng ủy quyền, số công chứng 2098 quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 02/10/2023 có chữ ký công chứng của Công chứng viên Trương Văn T4 thuộc Văn phòng C1. H giao Hợp đồng cho ông T3 và ông T3 đã liên hệ ông Nguyễn Thành T2 để ông T2 chuyển khoản trước số tiền 182.000.000 đồng vào tài khoản 07024273601 Ngân hàng T6 (T7) của bị cáo T. Hôm sau, T đến gặp thì ông T3 đưa thêm 8.000.000 đồng tiền mặt, và ông T3 giữ lại 10.000.000 đồng tiền lãi lấy trước. Sau khi nhận tiền, T đã chuyển khoản 100.000.000 đồng cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kim L, còn lại trả nợ hết.

Về phía ông Lê Anh T3, sau khi nhận xe ô tô biển số 66A-218.55 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe và hợp đồng ủy quyền đã giao cho ông T2 cất giữ tại nhà số C, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường T, thành phố Cần Thơ). Đến ngày hẹn trả xe thuê, bà X không thấy bị cáo T mang xe đến trả nên liên lạc với T thì T nói dối là đang điều khiển xe ô tô đi du lịch ở huyện đảo P, tỉnh Kiên Giang chưa về. Đến ngày 12/10/2023, ông P (chủ xe) mở định vị xe thì phát hiện xe ô tô biển số 66A -218.55 đang ở vị trí số C đường T, phường H (nay là phường T, thành phố Cần Thơ) nên thông báo cho bà X biết và tìm đến nơi vị trí xe gặp ông T2, mới được biết T đã cầm xe lấy tiền bằng hình thức ủy quyền cho ông T2. Sau đó, bà X đi trình báo Công an để làm rõ sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 88 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, thành phố Cần Thơ, kết luận: Giá trị 01 xe ô tô 07 chỗ BKS 66A-218.55, nhãn hiệu Toyota, loại Rush số máy 2NRG539421, số khung MHKE8FF3VLK012190, sản xuất năm 2020, I là 400.000.000 đồng.

Đối với ông Lê Anh T3 và ông Nguyễn Thành T2 là người nhận cầm cố xe của bị cáo T không biết xe ô tô do bị cáo thuê của người khác rồi mang đi cầm. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý T2, T3 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với ông Trương Văn T4, Văn phòng C1 công chứng Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2098 quyển số 09/2023/TP-CC-SCC/HĐGĐ ngày 02/10/2023 vi phạm quy định của Luật công chứng, Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi đến Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với Công chứng viên Trương Văn T4.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ ban hành Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 17 tháng 9 năm 2025 truy tố bị cáo Dương Thị Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ quyết định:

“Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Minh T 06 (Sáu) năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (H1) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Tổng hợp hình phạt chung là 08 (T5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.”

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định pháp luật.

Ngày 10/10/2025, bị cáo Dương Thị Minh T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét các tình tiết: Bị cáo chủ quan suy nghĩ mình có thể xoay xở được tiền nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tiền của bị hại ngay từ đầu; bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và phía bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Dương Thị Minh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và nói lời sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Đánh giá về động cơ và tính chất phạm tội của bị cáo là do bộc phát nhất thời, vì cần tiền trả nợ cho mẹ nên bị cáo suy nghĩ thuê xe cầm cố một thời gian để xoay xở trả nợ, sau đó sẽ chuộc lại xe trả cho bị hại, bị cáo không có ý thức chiếm đoạt chiếc xe ngay từ đầu nên mới thuê xe của người quen. Khi việc cầm cố xe bị phát hiện, bị cáo đã chủ động trả tiền để chuộc xe giao trả lại cho bị hại. Về xác định giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là số tiền cầm cố xe 200.000.000 đồng, không phải giá trị của chiếc xe theo kết quả định giá là 400.000.000 đồng. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng cho bị cáo là: Bị cáo đã ăn năn, hối cải hành vi phạm tội; thành khẩn khai báo trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt; ông, bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, cha mẹ bị cáo tham gia quân đội phục vụ đất nước. Từ các tình tiết nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị cáo có cung cấp thêm tài liệu là giấy chứng nhận ông, bà nội được Nhà nước khen thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng bổ sung cho bị cáo; ngoài ra cần xem xét áp dụng thêm tình tiết “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” cho bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51, vì bị cáo đã chủ động trả tiền cầm cố để chuộc lại xe và chiếc xe đã được Công an giao trả lại cho bị hại. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 01 đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét đơn kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 10/10/2025 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị Minh T như sau:

[2.1] Do cần tiền để trả lại mẹ ruột và trả nợ, bị cáo Dương Thị Minh T nảy sinh ý định thuê xe ô tô để cầm cố lấy tiền. Thực hiện hành vi, ngày 29/9/2023 bị cáo liên lạc bà Ân Thị Mỹ X để thuê xe ô tô biển số 66A – 218.55 do ông Phạm Thanh P đứng tên chủ sở hữu. Sau khi nhận xe ô tô, T điều khiển xe đến Salon ô tô Văn C gặp ông Lê Anh T3 để cầm xe lấy tiền nhưng không được do không chính chủ. Tuy nhiên, ông T3 cho biết trường hợp có ảnh chụp căn cước công dân chủ xe và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ xe thì sẽ đồng ý cầm với giá 200.000.000 đồng nên T đã trả lại xe cho bà X. Sau đó, trong các ngày 30/9/2023, 01/10/2023 bị cáo T lên mạng xã hội đặt làm 01 giấy Căn cước công dân và 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông P. Trong cùng ngày 02/10/2023, bị cáo T tiếp tục liên hệ bà X để thuê xe ô tô tự lái biển số 66A-218.55 trong thời gian 01 tuần (thỏa thuận thuê miệng, không làm hợp đồng) và đến gặp ông T3 để cầm với số tiền 200.000.000 đồng nhưng thực nhận 190.000.000 đồng, ông T3 giữ lại 10.000.000 đồng tiền lãi lấy trước. Sau khi nhận tiền, T đã chuyển khoản 100.000.000 đồng cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kim L, còn lại trả nợ và tiêu xài cá nhân.

[2.2] Tại Kết luận định giá tài sản số 88/TCKH-HĐĐG ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, thành phố Cần Thơ, kết luận: 01 xe ô tô 07 chỗ biển số 66A-218.55, nhãn hiệu Toyota, loại Rush số máy 2NRG539421, số khung MHKE8FF3VLK012190, sản xuất năm 2020, I là 400.000.000 đồng.

[2.3] Bị cáo Dương Thị Minh T đã có hành vi gian dối đối với bị hại nói rằng thuê xe đi du lịch nhưng sau đó lại sử dụng giấy tờ giả để đem xe đi cầm cố lấy tiền sử dụng cho mục đích cá nhân, đã quá hạn thuê xe nhưng không hoàn trả xe lại cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm hại khách thể được pháp luật bảo vệ đó là quyền sở hữu tài sản của công dân và trật tự quản lý hành chính Nhà nước đối với tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Xét hành vi của bị cáo đưa ra thông tin gian dối và sử dụng giấy tờ giả để đem xe đi cầm cố nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Quyết định của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện nộp tiền bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại bà Ân Thị Mỹ X có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; cha mẹ bị cáo có thời gian công tác trong Quân đội là người có công với cách mạng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm giấy chứng nhận ông, bà nội được Nhà nước khen thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì theo quyết định số 235 KT/CTN ngày 23/3/2001 của Chủ tịch nước, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo. Đánh giá về động cơ, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát nhất thời, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo suy nghĩ rằng để có tiền trả nợ cho mẹ và người khác, nên đã thuê xe người quen đem cầm cố để xoay xở tiền trong khoảng thời gian. Sau khi sự việc bị phát hiện, bị cáo đã chủ động trả tiền cho người nhận cầm cố nhằm mục đích chuộc lại xe giao trả lại cho bị hại và chiếc xe đã được cơ quan Công an giao trả lại cho bị hại, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là “Phạm tội gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải, có ý thức sửa chữa lỗi lầm.

[4] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T, đề nghị của người bào chữa, và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Dương Thị Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Các phần Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị Minh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ.

  2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, Điều 38, điểm b, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Minh T 04 (bốn) năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Thị Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các phần Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ (01);
  • - TAND Khu vực 1 – Cần Thơ (02);
  • - VKSND Khu vực 1 – Cần Thơ (01);
  • - CQCSĐT- Công an thành phố Cần Thơ (01);
  • - CQTHAHS - Công an thành phố Cần Thơ (01);
  • - Phòng THADS Khu vực 1 – Cần Thơ (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Phòng HSNV-Công an thành phố Cần Thơ (01);
  • - Lưu: HSVA, THS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Nhuận

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Quốc Định     Bùi Thanh Q

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang N1

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/HS-PT ngày 19/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 10/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger