|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10 - TÂY NINH |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST. Ngày 12 - 01 - 2026 V/v“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lâm Văn Be;
- 2. Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 422/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp A, xã C, tỉnh Tây Ninh; căn cước công dân số [...], cấp ngày 08/7/2021, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
Bị đơn: Anh Đỗ Long M, sinh năm 1998; nơi cư trú: khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; căn cước công dân số [...], cấp ngày 12/01/2016, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/9/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Thu H trình bày:
Chị H và anh M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 11/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến tháng 5/2025 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Hai bên đã nhiều lần tự hoà giải, tự hàn gắn tình cảm nhưng không thành, cuộc sống chung bế tắc không mang lại hạnh phúc, chị H yêu cầu ly hôn với anh M, lý do chị H cho rằng anh M nhắn tin với người phụ nữ khác, chị không còn tin tưởng chồng, chị yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung tên Đỗ Gia H1, sinh ngày 19/10/2021, chị H đồng ý giao con chung cháu H1 cho anh M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị chung sống không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị H xác định không có nợ chung.
Bị đơn anh Đỗ Long M có ý kiến trình bày:
Thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung đúng như chị H trình bày, anh không bổ sung.
Vợ chồng anh chị không có phát sinh mâu thuẫn như chị H trình bày, do đó chị H yêu cầu ly hôn anh không đồng ý ly hôn, vì vợ chồng vẫn sống chung, ăn chung, ngủ chung, cùng ở bên nhà cha mẹ vợ, không biết lý do chị H xin ly hôn. Chị H cho rằng anh M nhắn tin với người phụ nữ khác anh không đồng ý, anh không đồng ý lời trình bày của chị H cho rằng anh có người phụ nữ khác.
Trường hợp nếu vợ chồng phải ly hôn, anh yêu cầu nuôi con chung cháu H1, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh làm nghề trồng nấm rơm mỗi ngày thu nhập 300.000 đồng đến 400.000 đồng, một tháng khoảng từ 12.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng, đủ tiền nuôi con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội qui phiên tòa.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H đối với anh M; Về con chung: Ghi nhận chị H tự nguyện giao con chung tên Đỗ Gia H1, sinh ngày 19/10/2021 cho anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tài sản chung; Nợ chung: Không có, không xem xét.
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
-
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Thu H là nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Đỗ Long M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do. Chị Lê Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh M, anh Đỗ Long M có nơi cư trú tại khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh, căn cứ Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Giữa chị H và anh M chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (hiện nay là phường T, tỉnh Tây Ninh) là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
- [2.2] Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H và anh M tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng, hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Chị H yêu cầu ly hôn, quá trình giải quyết vụ án anh M yêu cầu vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh không đưa ra được phương án hàn gắn tình cảm để vợ chồng xây dựng hạnh phúc thực sự, anh M thừa nhận vì thương con còn nhỏ nên không đồng ý ly hôn với chị H.
- [2.3] Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, nhận thấy trong quan hệ vợ chồng giữa anh chị không có giá trị bền vững, vợ chồng thiếu tin tưởng nhau, do đó khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Chị H, anh M có 01 con chung tên Đỗ Gia H1, sinh ngày 19/10/2021. Chị H đồng ý giao con chung cho anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên ghi nhận.
- [4] Về cấp dưỡng: Anh M không yêu cầu.
- [5] Về tài sản chung; Nợ chung: Chị H, anh M trình bày không có không xem xét.
- [6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9, 51, 56, 81, 8, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thu H với anh Đỗ Long M. Chị Lê Thị Thu H và anh Đỗ Long M được ly hôn.
- 2. Về con chung: Giao con chung cho Đỗ Gia H1, sinh ngày 19/10/2021 cho anh Đỗ Long M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- 3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.
- 4. Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có, không xem xét.
- 5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Chị Lê Thị Thu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Chị Lê Thị Thu H chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005292 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁM - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị H2 |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Lâm Văn Be |
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Văn Vân |
Bản án số 10/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 10/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi co
