Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Số: 1/2026/HS-ST

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 01 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đinh Kim Hoàng.
  2. Bà Ngô Như Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 367/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 401/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Huỳnh Văn D, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1998 tại Bình Thuận; hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường H, tỉnh Lâm Đồng (trước là Thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận); nơi cư trú: C N, phường T (trước là Phường B, quận T), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh L và bà Văn Thị Đ; tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Bị tạm giam ngày 08/11/2024 “có mặt”.

  2. Nguyễn Quang H, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1999 tại Bình Phước; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P (trước là xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước), tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: 4 B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị tạm giam ngày 08/11/2024 “có mặt”.

- Bị hại:

Ông Chauhan V, sinh năm 1995 “có mặt”.

Địa chỉ: 1 C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người phiên dịch:

Ông Lê Anh T1, sinh năm 2001 “có mặt”.

Địa chỉ: Khu V N, Thành phố N, Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Vũ H1, sinh năm 1972 “vắng mặt”.

Địa chỉ: E C, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26/10/2024, Huỳnh Văn D đăng bán 01 xe mô tô hiệu Honda ADV, màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16 với giá 17.000.000 đồng trên mạng xã hội Facebook thì ông Chauhan V (Quốc tịch: Ấn Độ, hiện đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam) nhắn tin trao đổi việc mua xe mô tô trên. Sau khi thỏa thuận, cả hai hẹn gặp nhau tại địa chỉ số A C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) để xem xe và thỏa thuận giá mua bán. Huỳnh Văn D chở Nguyễn Quang H đến điểm hẹn để giao dịch. Sau khi xem xe, ông Chauhan V và Huỳnh Văn D đồng ý thỏa thuận giá xe là 17.000.000 đồng. Do không có tiền Việt Nam, ông Chauhan V đưa cho Huỳnh Văn Danh S tiền 605 USD và 200.000 đồng (tổng cộng tương đương với số tiền là 15.500.000 đồng). Sau khi nhận tiền, Huỳnh Văn D đã giao xe gắn máy trên cho ông C Varun sử dụng, đồng thời hẹn là khi nào làm xong giấy mua bán xe thì ông Chauhan V phải trả đủ số tiền còn lại. Sau khi về nhà, Huỳnh Văn D tìm mẫu giấy mua bán xe trên mạng rồi điền thông tin về việc mua bán xe giữa Huỳnh Văn D và ông Chauhan V. Đồng thời, Huỳnh Văn D nhắn tin cho Nguyễn Quang H để bàn bạc cách chiếm đoạt số tiền còn nợ khi mua xe trong trường hợp ông Chauhan V không đồng ý trả tiền. Nguyễn Quang H đồng ý. Đến ngày 06/11/2024, Huỳnh Văn D nhắn tin hẹn gặp ông Chauhan V tại khu vực C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích lấy tiếp số tiền còn nợ lúc bán xe. Huỳnh Văn D rủ Nguyễn Quang H đi chung. Trên đường đi, Huỳnh Văn D nói cho Nguyễn Quang H biết là có mang theo một còng bằng kim loại (dạng đồ chơi) và một Giấy phép lái xe hạng A1 để giả làm Công an nhằm hù dọa ông Chauhan V. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Huỳnh Văn D điều khiển xe gắn máy chở Nguyễn Quang H điểm hẹn và liên lạc với ông Chauhan V. Ông Chauhan V yêu cầu gặp tại Chung cư S, địa chỉ A C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi Huỳnh Văn D chở Nguyễn Quang H đến điểm hẹn, ông Chauhan V đến gần nói chuyện với Huỳnh Văn D, còn Nguyễn Quang H đứng sau lưng D cách khoảng 03 mét. Tại đây, Huỳnh Văn D đưa giấy mua bán xe (đã soạn sẵn), yêu cầu ông Chauhan V ký tên và đưa tiếp số tiền còn thiếu. Do nhìn thấy trên giấy mua bán xe không có dấu mộc của cơ quan nhà nước, ông Chauhan V không đồng ý ký tên rồi bỏ đi. Thấy vậy, Huỳnh Văn D lấy từ bên trong túi quần ra một Giấy phép lái xe hạng A1, dùng ngón tay trên bàn tay trái che dòng chữ Giấy phép lái xe giơ lên cao, còn tay phải thì cầm một còng dạng số 8, tự xưng là Công an rồi yêu cầu ông Chauhan V phải trả tiếp số tiền còn nợ khi mua xe trước đó. Nếu ông Chauhan V không trả tiền thì Huỳnh Văn D sẽ đưa về trụ sở Công an để làm việc. Lúc này, ông Chauhan V quơ tay trúng vào mặt Huỳnh Văn D thì D dùng tay phải đánh nhiều cái vào vùng mặt ông Chauhan V. Cùng lúc này, Nguyễn Quang H xông vào dùng tay đánh và đè ông Chauhan V nằm xuống đất rồi cả hai tiếp tục yêu cầu ông Chauhan V trả tiền. Do ông Chauhan V không còn phản kháng, Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H đỡ ông Chauhan V đứng dậy. Huỳnh Văn D tiếp tục hỏi “Mày có tiền trả nợ không?”. Ông Chauhan V lấy từ bên trong túi quần đang mặc ra số tiền 200.000 đồng để đưa cho Huỳnh Văn D nhưng D không đồng ý. Lúc này, ông Chauhan V bất ngờ bỏ chạy được khoảng từ 02 đến 03 bước thì bị Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H đuổi theo kéo áo lại. Nguyễn Quang H dùng tay đánh vào mặt, dùng chân gạt ngang làm cho ông Chauhan V té ngã xuống đất. Sau đó, Nguyễn Quang H dùng tay kéo áo thun của ông Chauhan V đang mặc để bịt miệng ông Chauhan V lại. Còn Huỳnh Văn D ngồi đè tỳ lên người của ông Chauhan V rồi dùng tay chỉ vào mặt nói “Giữ im lặng”. Trong lúc bị đè xuống đất, ông Chauhan V bị rơi từ bên trong túi quần ra hai điện thoại di động cùng nhãn hiệu Samsung Galaxy Ultra 20. Thấy vậy, Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H kéo ông Chauhan V đứng dậy. Huỳnh Văn D lấy hai điện thoại di dộng đang rớt dưới đất lên rồi đưa cho ông Chauhan V. Huỳnh Văn D yêu cầu ông Chauhan V chuyển toàn bộ dữ liệu từ một trong hai điện thoại di động sang chiếc điện thoại di động còn lại, rồi đưa chiếc điện thoại di động đã trống dữ liệu cho Huỳnh Văn D. Tuy nhiên, ông Chauhan V không đồng ý. Thấy vậy, Huỳnh Văn D dùng tay đánh hai cái vào vùng bụng của ông Chauhan V. Do lo sợ sẽ tiếp tục bị đánh, ông Chauhan V làm theo yêu cầu. Huỳnh Văn D lấy điện thoại di động của mình ra, mở mã QR tài khoản ngân hàng rồi đưa cho ông C Varun chụp lưu lại để khi nào có tiền sẽ chuyển khoản trả cho D. Đồng thời, Huỳnh Văn D lấy điện thoại di động hiệu S1 20 đã trống dữ liệu của ông Chauhan V bỏ vào túi quần trước bên trái rồi cả hai lên xe gắn máy bỏ đi. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Chauhan V đến trụ sở Công an phường C, Quận A (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc, đồng thời giao nộp xe gắn máy hiệu Honda ADV màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H đến trụ sở Công an đầu thú, trình bày toàn bộ sư việc như đã nêu trên, đồng thời giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt là điện thoại di động của ông Chauhan V.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 189/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

Một điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, 256Gb, số I: 356556770393263, qua sử dụng, đã thu hồi, thời điểm định giá ngày 06/11/2024, kết luận định giá: 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Tại Cáo trạng số 129/CT-VKS-Q1 ngày 25/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực1), Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Đề nghị mức hình phạt như sau:

Huỳnh Văn D: Từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Nguyễn Quang H: Từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) còng bằng kim loại (01 mặt có chữ MADE IN CHINA, 01 mặt có chữ NO.368).
  • Trả lại ông Chauhan V 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Note, màu đen, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ.
  • Giao Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda ADV, màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16, số khung: MH1KF6113KK012775, số máy: KF61E-1012777. Trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về điều luật áp dụng: Trong vụ án, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào năm 2024. Căn cứ Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử đối với các bị cáo.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:

Đây là vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xuất phát từ việc ông Chauhan V còn nợ tiền mua xe gắn máy hiệu Honda ADV màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16 là 1.500.000 đồng, Huỳnh Văn D đã rủ rê Nguyễn Quang H chiếm đoạt tài sản trong trường hợp ông Chauhan V không thanh toán hết số tiền còn thiếu. Vào khoảng 22 giờ ngày 06/11/2024, tại trước số A C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H có hành vi dùng tay đánh vào vùng mặt, vùng bụng của ông Chauhan V để yêu cầu trả số tiền còn thiếu khi bán xe là 1.500.000 đồng. Khi ông Chauhan V không trả tiền, Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H có hành vi dùng vũ lực tấn công nhằm chiếm đoạt một điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, 256 Gb theo Kết luận định giá là 8.000.000 đồng của ông Chauhan V. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với hành vi Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H dùng tay đánh và gây thương tích cho ông Chauhan V, quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông Chauhan V xác định đã nộp đơn từ chối giám định thương tích và đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H. Cơ quan Cảnh Sát điều tra Công an Thành phố H không tiến hành giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Chauhan V. Do đó, Hội đồng xét không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi này.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân và gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Quang H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra Đơn xin xác nhận thân nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai) về việc bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1923, là bà cố ngoại của bị cáo Nguyễn Quang H, là Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng; ông Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1943, là ông ngoại của bị cáo Nguyễn Quang H, và bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1952, là bà ngoại của bị cáo Nguyễn Quang H, là người đang hưởng chính sách là người có công với Cách M.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bà Văn Thị Đ là mẹ ruột của bị cáo Huỳnh Văn D đã nộp cho Tòa án Đơn xin xác nhận là thân nhân người có công với Cách M, có nội dung thể hiện ông Văn Công H3 là ông ngoại của bị cáo Huỳnh Văn D được tặng Huy chương kháng chiến hạnh Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng”. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Huỳnh Văn D, Nguyễn Quang H không đủ căn cứ để được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Xét, đây là điện thoại di động được Nguyễn Quang H sử dụng để liên lạc trao đổi bàn bạc với Huỳnh Văn D về việc chiếm đoạt tài sản của ông Chauhan V, là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ 01 (một) còng bằng kim loại (01 mặt có chữ MADE IN CHINA, 01 mặt có chữ NO.368). Tại kết luận giám định số 14157/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H thể hiện “Đối tượng là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã xử phạt hành chính đối với Huỳnh Văn D về hành vi “Sử dụng công cụ hỗ trợ”. Xét, đây là vật chứng cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • Thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ. Xét, đây là điện thoại di động được Huỳnh Văn D sử dụng để liên lạc trao đổi bàn bạc với Nguyễn Quang H về việc chiếm đoạt tài sản của ông Chauhan V, là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Note, màu đen, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ. Xét, đây là tài sản cá nhân của ông Chauhan V bị các bị cáo chiếm đoạt nên trả lại.
  • Thu giữ 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda ADV, màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16, đã qua sử dụng. Tại Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an Thành phố H thể hiện “Số khung nguyên thủy: MH1KF6113KK012775 (không bị đục số). Số máy: KF61E-1012777 (không bị đục số)”.

Quá trình điều tra xác định, xe gắn máy biển số 59U2-482.16 do ông Vũ H1 đứng tên chủ sỡ hữu. Tại Cơ quan điều tra, ông Vũ H1 trình bày đã mua xe gắn máy trên vào khoảng tháng 11 năm 2021 với giá 90.000.000 đồng tại cửa hàng M1 trên địa bàn quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng cuối năm 2022, do không còn nhu cầu sử dụng, ông Vũ H1 đã bán lại xe gắn máy trên cho một người đàn ông không rõ họ tên, không rõ địa chỉ với giá 62.000.000 đồng. Việc mua bán xe gắn máy trên có làm giấy tờ mua bán viết bằng tay nhưng hiện ông không còn lưu giữ và cũng không biết thông tin gì về người đàn ông đã mua xe của ông. Do đó, ông Vũ H1 không thể cung cấp giấy tờ gì cho Cơ quan điều tra, đồng thời cũng xác định không có yêu cầu gì đối với xe gắn máy trên.

Tại phiên tòa, Huỳnh Văn D khai nhận đã mua xe gắn máy biển số 59U2-482.16 của một người đàn ông, quốc tịch Hàn Quốc (không rõ nhân thân lai lịch, không rõ địa chỉ) trên đường N, Thành phố T vào ngày 26/10/2024 với giá 12.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán xe và cũng không trước bạ sang tên.

Xét, Cơ quan Cảnh Sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành đăng báo tìm người liên quan đến xe gắn máy biển số 59U2-482.16 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Tại phiên tòa, bị hại là ông Chauhan V xác định không yêu cầu nhận lại xe. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố H tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda ADV, màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16, số khung: MH1KF6113KK012775, số máy: KF61E-1012777. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với số tiền 605 đô la Mỹ và 200.000 đồng tương đương 15.500.000 đồng:

Tại phiên tòa,

  • Bị hại là ông Chauhan V chỉ yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn D phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã đưa khi mua xe gắn máy biển số 59U2-482.16 là 15.000.000 đồng.
  • Bị cáo Huỳnh Văn D đồng ý trả lại số tiền 15.000.000 đồng cho ông Chauhan V.

Xét, đây là sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn D, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đối với chi phí điều trị do các bị cáo Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H gây thương tích cho ông Chauhan V:

Tại phiên tòa,

  • Bị hại là ông Chauhan V yêu cầu các bị cáo Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí điều trị vết thương do các bị cáo gây ra với số tiền là 3.000.000 đồng.
  • Các bị cáo Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H đồng ý bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho ông Chauhan V.

Xét, đây là sự tự nguyện của các bị cáo, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Huỳnh Văn D, 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Nguyễn Quang H, 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn D về việc trả lại số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) cho ông Chauhan V.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H có trách nhiệm liên đới về việc bồi thường chi phí điều trị với số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho ông Chauhan V.
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) còng bằng kim loại (01 mặt có chữ MADE IN CHINA, 01 mặt có chữ NO.368).
    • Trả lại ông Chauhan V 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Note, màu đen, đã qua sử dụng, mặt kính sau vỡ.
    • Giao Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda ADV, màu đỏ đen, biển số 59U2-482.16, số khung: MH1KF6113KK012775, số máy: KF61E-1012777. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

      (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 75/2026 ngày 24/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

  5. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Luật phí và lệ phí:
    • Bị cáo Huỳnh Văn D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Bị cáo Nguyễn Quang H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
    • Các bị cáo Huỳnh Văn D và Nguyễn Quang H phải có trách nhiệm liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  6. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025:

    Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Công An TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM
  • - THADS TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND KV1;
  • - Phòng THADS KV1;
  • - Trại giam;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1/2026/HS-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 1/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HVD - NQH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger