TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/DS-PT Ngày: 19/01/2026 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đức Thọ;
Các Thẩm phán: Ông Vi Khánh Dần;
Bà Tô Thị Thùy Ngân.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Luyện Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND), tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của TAND khu vực 1 - Cao Bằng bị kháng cáo.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐ-PT của TAND, tỉnh Cao Bằng mở phiên tòa Dân sự phúc thẩm vào ngày 08/12/2025; tại cấp phúc thẩm, bị đơn có mời Luật sư để đại diện, tham gia tố tụng tại phiên tòa. Ngày 22/12/2025 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Hải Y có Đơn đề nghị hoãn phiên tòa. TAND tỉnh Cao Bằng có Thông báo số 21/TB-TA ngày 08/01/2026 mở lại phiên toà dân sự phúc thẩm vào ngày 26/12/2025.
Giữa các đương sự;
- Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1964 (Có mặt)
- Bà Nông Thị N1, sinh năm: 1965 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
- Bà Lê Thị T, sinh năm: 1963 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Trung D - Văn phòng luật sư Nguyễn Trung D, đoàn luật sư tỉnh C địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
-Bị đơn: Bà Trần Thị Y1, sinh năm: 1930 (Có mặt);
Địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đàm Thị T1, sinh năm 1961 (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Trần Thị Y1: Luật sư Nguyễn Hải Y – Công ty L; địa chỉ: Tầng D, số A phố Q, quận C, Hà Nội (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân tỉnh C.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hải H - Chủ tịch; địa chỉ: Khu đô thị M, phường T, tỉnh Cao Bằng (Có công văn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân phường T, tỉnh Cao Bằng.
Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Minh C - Chủ tịch; địa chỉ: phường T, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).
- Sở hữu chung cộng đồng Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đàm Thị Thu H1 - Tổ trưởng; địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Đàm Cao T2, địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
- Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 (Có mặt);
- Ông Triệu Văn C1, sinh năm 1966 (Có mặt).;
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng
- Người làm chứng:
- Bà Triệu Thị O, sinh năm: 1954; bà Hoàng Thị B1, sinh năm: 1942 (Có mặt);
- Các ông: Hoàng S, sinh năm 1940 (Vắng mặt);
- Nông Đ, sinh năm 1957 (Có mặt);
- Ông Lê Viết S1, sinh năm 1961 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
- Bà Hoàng Thị T3, sinh năm: 1940; địa chỉ: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
- Bà Đàm Thị T4, sinh năm 1937 (Có mặt);
Địa chỉ: xóm T, xã B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm T, xã H, tỉnh Cao Bằng).
- Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ Hòa C, phường T, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Lê Thị N, Lê Thị T, Nông Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn Lê Thị N, Lê Thị T, Nông Thị N1 trình bày:
Bố chúng tôi ông Lê Viết T5 đã chết năm 1984, mẹ bà Đàm Thị N2 đã chết năm 2007, bà N2 có em trai ruột ông Đàm Đức T6 đã chết năm 2008, có vợ bà Trần Thị Y1 là bị đơn. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Khi còn sống ông Lê Viết T5, bà Đàm Thị N2 đã mua được một số thửa đất, gồm có (đất ở, đất trồng lúa, đất trồng cây khác). Trong đó, có thửa đất ở số 19, tờ bản đồ số 9, diện tích 1279m², trên thửa đất có nhà ở, công trình phụ và một phần đất làm vườn trồng cây ăn quả; 01 thửa đất ruộng, diện tích khoảng 2000m² khi còn sống mẹ tôi (bà N2) cho gia đình em trai ruột ông Đàm Đức T6 và bà Trần Thị Y1 mượn để canh tác, trồng lúa, về sau này gia đình ông T6 bà Y1 tự tiện cải tạo làm ao chăn nuôi thả cá.
Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 9, diện tích 1279m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN-QSDĐ) số K272471 ngày 14/12/1998, vào sổ cấp số 00135 QSDĐ/110107 mang tên Lê Minh H2 (đã chết năm 2021) là con trai cả của ông T5, bà N2. Đến ngày 07/7/2022, Văn phòng Đ3 (VP-ĐKĐĐ) - Chi nhánh thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã chuyển quyền thừa kế cho bà Nông Thị N1 vợ ông Lê Minh H2 1/2 diện tích thửa đất, thửa đất trên có vị trí tiếp giáp liền kề với đường đi chung cộng đồng tổ dân phố H, tiếp đến phía bên đường là đất của gia đình bà Trần Thị Y1. Vì gia đình bà Y1 lấn chiếm một phần diện tích đất vào phần giáp ranh đường đi chung cộng đồng, ngày 24/01/2003 Tổ dân P đã thành lập Hội đồng hòa giải để giải quyết sự việc trên, gồm có: Ông Hoàng S (Bí thư chi bộ), ông Nông Đ (Trưởng thôn - Trưởng ban MTTQ), ông Lê S1 (Thanh tra nhân dân) và bà Lê T7 (phụ trách Phụ nữ thôn) đã kết luận, yêu cầu gia đình ông T6, bà Y1 không được lấn chiếm vào đường đi chung cộng đồng, được xác định cắm mốc giới, địa giới, phân định giữa đất đường đi và các vị trí tiếp giáp hai bên đường, phần diện tích đất của ông Lê Minh H2 tiếp giáp liền kề với đất đường đi chung và đất của gia đình ông T6 bà Y1 được xác định rõ ràng, nhưng ông T6 bà Y1 vẫn cố tình lấn chiếm, đẩy vị trí ranh giới đường đi chung lẫn sang đất của gia đình tôi.
Còn thửa đất số 49, tờ bản đồ 27, diện tích (khoảng 2000m²) phía dưới đường, có một cạnh giáp ranh liền kề với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 9. Trước đây vợ chồng ông Đàm Đức T6 bà Trần Thị Y1 thuộc hộ gia đình đông con, có khó khăn về kinh tế, không đủ ruộng đất sản xuất, canh tác để nuôi con; do đó, ông T6 bà Y1 đã mượn thửa trên của chị gái ruột bà Đàm Thị N2, để có đất canh tác trồng lúa, vì là em trai ruột nên bố mẹ chúng tôi đã cho gia đình ông T6, bà Y1 mượn đất để trồng lúa, thời điểm đó việc cho mượn đất ruộng không được lập thành văn bản, đến khi gia đình bà Y1 bớt phần khó khăn, mẹ chúng tôi có sang đòi lại đất nhưng ông T6 bà Y1 không trả, còn hứa hẹn hết vụ thu hoạch lúa sẽ trả, nhưng sau đó không trả đất mà còn tự cải tạo đất ruộng trồng lúa làm ao chăn nuôi, thả cá. Vì vậy, đã có phát sinh tranh chấp, hai bên gia đình đã tự thỏa thuận giải quyết nhưng không thành, đến khi bố mẹ chúng tồi qua đời, chúng tôi là các con của bà N2, ông T5 gồm: Lê Thị N, Lê Thị T, Lê Minh H2 tiếp tục đòi đất nhưng bà Y1 cố ý không trả, hai bên có đến gặp nhau để trao đổi, thoả thuận nhưng không đem lại kết quả.
Đến tháng 9/2024, do ảnh hưởng của cơn Bão số 03 (YAGI) làm đổ một phần bức tường rào xây bằng gạch, giữa đất của gia đình tôi với đường đi cộng đồng, gia đình chúng tôi đã làm đơn gửi Bí thư chi bộ, Trưởng xóm và Ủy ban nhân dân (UBND) phường, để cấp phép, xây lại đoạn tường xây bị đổ, khi thi công xây dựng bà Trần Thị Y1 và các con đến ngăn cản không cho xây. Ngày 21/11/2024 UBND phường H có phân công cán bộ địa chính phường và Tổ trưởng dân phố đến hiện trường lập biên bản, yêu cầu gia đình bà Y1 và các con không được cản trở, gây khó khăn cho gia đình tôi khi xây dựng lại đoạn tường gạch bị đổ, nhưng gia đình bà Y1 vẫn không cho xây dựng tiếp, xâm hại đến quyền dân sự, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của gia đình tôi.
Do đó, chúng tôi đã làm khởi kiện để Toà án giải quyết theo luật định:
- Thứ nhất, yêu cầu gia đình bà Trần Thị Y1 chấm dứt hành vi lấn chiếm đất đường đi chung của cộng đồng, không di chuyển vị trí đường sang đất của gia đình nguyên đơn tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 9, diện tích 1279 m²;
- Thứ hai, yêu cầu gia đình bà Trần Thị Y1 trả lại cho gia đình chúng tôi diện tích thửa đất số 49, tờ bản đồ 27, diện tích (khoảng 2000m²) hiện nay là ao thả cá; yêu cầu lấp ao, khôi phục lại đất ruộng trả lại cho gia đình chúng tôi.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc C2 trình bày:
Tôi không nhất trí với việc khởi kiện của nguyên đơn, chính gia đình nguyên đơn xây tường rào gạch lấn sang diện tích đường đi chung cộng đồng và xây dựng lẫn sang diện tích đường đi lại của tổ dân phố, khi đó có Bí thư, Tổ trưởng tổ 1 và cán bộ Địa chính phường T đến giải quyết, đã cho việc dừng xây dựng trái phép, khi chưa được cấp phép mà vẫn lén lút xây dựng tường gạch, gia đình tôi phản đối và báo cáo sự việc lên phường để chính quyền giải quyết. Tháng 4/2025, UBND phường H tiến hành hòa giải, sau đó cán bộ địa chính phường có thông báo đến gia đình bà Nông Thị N1, không được xây dựng trái phép, theo tôi mọi công dân làm việc chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, nhưng gia đình nguyên đơn không chấp hành, còn khởi kiện gia đình tôi, trong khi xây dựng lại tường gạch, không đúng vị trí trước đó Tổ dân P đã cắm cọc xác định mốc giới, tự ý xây lẫn vào phần diện tích đất đường đi lại của nhân dân trong xóm, còn ranh giới bên gia đình tôi vẫn giữ nguyên hiện trạng từ năm 2003 đến nay, không không xây dựng, lẫn chiếm vào diện tích đất đường đi cộng đồng và lấn sang đất của bà N1 nên việc khởi kiện của nguyên đơn là vô căn cứ. Đường cộng đồng đã có từ rất lâu, từ khi gia đình nguyên đơn chưa đến thôn sinh sống. Năm 2003 gia đình tôi có mua vật liệu về đổ đoạn đường này để thuận lợi cho việc đi lại, khi đó bà Đàm Thị N2 và bà Nông Thị N1 là con dâu có mâu thuẫn về đất đai trong gia đình. Sau đó, được Ban hòa giải phường tiến hành giải quyết ổn thỏa, về ranh giới và vị trí C3 ra vào nhà bà N1 "ngày đấy bà Đàm Thị N2 và ông Lê Minh H2 còn sống, đã phân định rõ ràng bằng tường gạch xây kiên cố, do gia đình nguyên đơn tự xác định, xây vào năm 2001".
Nguyên đơn, khởi kiện gia đình tôi trả lại diện tích đất ruộng khoảng 2000m² hi(là ao thả cá) của gia đình; yêu cầu lấp ao khôi phục lại đất ruộng là không có căn cứ, không đủ tính pháp lý. Về nguồn gốc, gia đình tôi sinh sống trên mảnh đất này trên 70 năm canh tác, sản xuất liên tục, chưa có việc tranh chấp, không có việc vay mượn ai cả, khi gia đình tôi lao động, tăng gia, canh tác trồng trọt trên thửa đất, từ khi gia đình nguyên đơn còn chưa có hôn thú "Bà N2 chưa có lấy ông T5", các thế hệ hậu sinh nguyên đơn chưa có trên đời. Về phần ruộng, chứng minh rõ đất có bờ vùng, thửa và bờ mương rõ ràng, sau này gia đình tôi cùng gia đình nguyên đơn đã có thống nhất và xây dựng tường rào bằng gạch, đó là ranh giới vẫn đang tồn tại, hiện nay nguyên đơn khởi kiện gia đình tôi là không có căn cứ pháp luật, việc gia đình tôi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gia đình tôi không trồng lúa chuyển sang đào ao thả cá, chính gia đình nguyên đơn còn hộ cắt cỏ chăn cá và làm theo mô hình đào ao nuôi cá, nguyên đơn bà Lê Thị N, Lê Thị T, Nông Thị Nhị tự vẽ ra sự việc mâu thuẫn trong khu dân cư, hàng xóm, nhất là anh em trong nhà, tôi yêu cầu cấp có thẩm quyền xuống thực địa để xem xét thẩm định rõ ràng hiện trạng các vị đất có phát sinh tranh chấp để có căn cứ giải quyết dứt điểm vụ việc.
Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sở hữu chung cộng đồng đại diện bà Đàm Thị Thu H1 - Tổ trưởng H chung 01, phường T, tỉnh Cao Bằng xác nhận:
Hiện nay tôi đang sinh hoạt, cư trú tại tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng về nội dung sự việc, tôi chỉ được biết. Về đường đi: Là con đường dân sinh do nhà nước và nhân dân cùng làm, đoạn đường đã có từ trước đến nay, trước đây đã có việc tranh chấp về mốc giới giáp ranh, theo biên bản hòa giải của Tổ dân P (Tổ 02 cũ) về việc giải quyết tranh chấp, giữa hai gia đình bà N2 (mẹ đẻ của bà N, T, mẹ chồng bà N1 lúc còn sống) với gia đình ông T6 bà Y1. Nhân dân trong tổ dân phố thống nhất ý kiến cụ thể như sau; đề nghị 02 bên gia đình thỏa thuận với nhau, tôn trọng mốc giới do UBND phường đã xác định vị trí, mốc giới trước đó, để nhân dân trong tổ dân phố có đường đi lại được thuận tiện hơn. Về đất ao: chúng tôi chỉ biết về nguồn gốc đất là của tổ tiên gia đình nhà ông T6, bà N2 để lại, còn quá trình quản lý và sử dụng phân chia đất đai trong gia đình ra sao, chúng tôi không nắm được. Đối với phần diện tích đất ao gia đình bà Trần Thị Y1 đã được cấp GCN-QSDĐ hiện nay đang trực tiếp quản lý, sử dụng canh tác, còn cấp ngày tháng năm nào chúng tôi không rõ.
Tại bản tự khai ngày 12/9/2025 và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đàm Cao T2 xác nhận: Năm 1995 khi tôi xây dựng gia đình, được bố mẹ tôi chia nhà đất cho các con để có nơi ở riêng, còn về đất đai của gia đình, diện tích phần đất tôi quản lý vẫn nằm chung trong GCN-QSDĐ mang tên Trần Thị Y1 (mẹ tôi). Hiện nay, nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về ranh giới đường đi cộng đồng và toàn bộ diện tích của thửa đất số 49, tờ bản đồ 27, diện tích 1992,7m² (là ao thả cá); mọi xử lý, về quyền định đoạt đều do mẹ tôi quyết định, phần diện tích tôi quản lý đã xây dựng nhà ở và các công trình phụ trên thửa đất từ năm 1997 đến nay, trong khi đó bà N2 chết năm 2007 khi đó tôi xây dựng nhà, không có ai tranh chấp hoặc kiện tụng gì. Tại thời điểm gia đình tôi xây dựng nhà và các công trình phụ, khi đó bố tôi là Đàm Đức T6 và bà Đàm Thị N2, ông Lê Minh H2 tất cả đều còn sống, các bên không có ý kiến gì, hai gia đình còn xây dựng hàng rào bằng tường gạch cách biệt, chính ông Lê Minh H2 là xác định ranh giới hai bên đường của hai bên gia đình với diện tích bề rộng của đoạn đường cộng đồng. Hiện nay, mẹ tôi đã già yếu nên đã có đại diện và nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp để trình bày quan điểm của chúng tôi khi tham gia tố tụng.
Ý kiến trình bày của các nhân chứng:
- Theo biên bản làm việc ngày 20/6/2025 các bà Nguyễn Thị B, Hoàng Thị B1, Triệu Thị O cùng xác nhận: Chúng tôi sinh sống tại tổ B, từ khi chúng tôi sinh ra cho đến nay, chỉ được biết nguồn gốc đất thửa đất ao thả cá, trước đây gia đình bà Đàm Thị N2 mua lại đất của ông Tài P1. Sau đó, có việc chuyển nhượng đất đai hay không, chúng tôi không rõ, không được biết và cũng chỉ được nghe kể lại, việc ông Đàm Đức T6 (em trai ruột của bà N2) trước đây khó khăn, bà N2 cho em trai canh tác để trồng lúa, sau này bà N2 có đòi lại nhưng gia đình ông T6 không trả, nhưng thực tế việc đòi lại đất hay có chuyển nhượng ra sao thì chúng tôi không được biết cụ thể.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thị B có đất liền kề, tiếp giáp với các vị trí đất của gia đình bà Y1 cho biết, từ trước đến nay phần đất ao có tranh chấp do gia đình ông T6, bà Y1 quản lý, sử dụng canh tác. Về đường đi của xóm đã có từ thời kỳ Hợp tác xã (HTX) Đại Thắng, khi đó hai chị em bà N2 và ông T6 phát sinh mâu thuẫn, được Tổ dân phố hòa giải, giải quyết tranh chấp và có biên bản giải quyết vào ngày 24/01/2003. Kể từ khi có kết quả hòa giải (năm 2003) hai bên gia đình không còn có việc tranh chấp xảy ra. Năm 2024, do bị ảnh hưởng của cơn bão, một phần tường rào nhà bà Nông Thị N1 bị đổ ở phần giữa nên đã xây dựng lại tường rào, trong khi thợ đang thi công, bên gia đình bà Y1 không cho xây vì có tranh chấp với nhau về mốc giới.
- Biên bản làm việc ngày 20/6/2025 các ông: H, Hoàng Đ1, Lê Viết S1 cho biết. Trong năm 2003, chúng tôi thuộc thành phần giải quyết mâu thuẫn đất đai (con đường đi) giữa hai hộ gia đình ông Đàm T6 và bà Đàm Thị N2. 02 gia đình đã có mâu thuẫn về con đường đi của xóm, khi đó Tổ hòa giải giải quyết mâu thuẫn, xác định rõ là đất thuộc đường đi chung, 02 bên gia đình và đoạn đường cộng đồng xóm do nhà nước và nhân dân cùng làm. Về nguồn gốc con đường, có từ trước thời HTX Đại Thắng, khi gia đình ông T6, bà N2 có mâu thuẫn xảy ra tranh chấp, khi đó Tổ dân P đã tiến hành giải quyết sự việc theo (Biên bản giải quyết ngày 24/01/2003), hai bên đã ký cam kết thực hiện. Ban hòa giải đã tiến hành căng dây, đóng cọc theo như nội dung của biên bản, để cho gia đình bà N2 cùng thợ xây thực hiện, cụ thể: Kéo thẳng điểm đầu tiên từ mép bên trong của cột đèn cao áp thẳng xuống đến bụi tre (hiện nay là mép bên ngoài cột cổng thứ 2 sát đường đi tính từ điểm đầu tiên), tiếp theo từ mép bên ngoài cột cổng thứ 2 xây theo đường thẳng xuống hết đất gia đình bà N2. Thợ xây, bắt đầu xây dựng vào ngày 24/1/2003 theo mốc giới của Ban hòa giải thôn. Sau 20 năm, kể từ ngày hòa giải giữa hai gia đình không có tranh chấp gì, đến khi tường rào nhà bà N1 bị đổ tại phần giữa do ảnh hưởng cơn Bão số 3 (YAGI) khi tiến hành xây lại tường rào, gia đình bà Y1 không cho xây vì có tranh chấp về mốc giới. Đối với diện tích đất ao đang phát sinh tranh chấp, chúng tôi không có thông tin gì để cung cấp thêm.
- Theo biên bản ngày 25/7/2025, bà Hoàng Thị T3 sinh năm 1940, địa chỉ: Tổ C H, phường T, tỉnh Cao Bằng xác nhận: Tôi sinh ra lớn lên tại khu vực N, H tôi không có quan hệ với các bên đương sự được biết. Về đất đường đi: Là đường đi chung của nhân dân trong xóm, không của riêng ai, trước đây ranh giới đất của ông Tài P1 có 01 hàng rào tre chạy dọc từ đường cái xuống ranh giới, phần đất của ông T6 cũng được ngăn cách bởi 01 hàng rào tre gia đình, giữa hai hàng rào tre là con đường đi chung của xóm. Về phần đất ao, trước đây là đất ruộng thẳng từ đường cái qua đất đường đi chung đến đám ruộng, nguồn gốc do bà Đàm Thị N2 mua với ông Tài P1 từ khi chưa lấy chồng, sau này gia đình ông T6 canh tác, trồng trọt, khi còn sống bà N2 có gặp gia đình ông T6 để đòi trả đất, nhưng sau đó cụ thể ra sao tôi không biết rõ.
- Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1950, địa chỉ: Tổ E H, phường T, tỉnh Cao Bằng xác nhận: Về thửa đất ao; có từ trước khi đưa vào HTX Đại Thắng (từ những năm 1960- 1961), khi đó tôi là Phó chủ nhiệm, nguồn gốc diện tích đất của ai, tôi không biết rõ. Năm 1987, khi tan HTX Đại Thắng các gia đình đến nhận lại đất đai và khi đó có phát sinh tranh chấp về phần đất ao giữa gia đình bà N2 và ông T6, thông qua việc xác minh, biết được bà N2 là người mua đất, chính vì bà N2 và ông T6 là chị em ruột, khi đó Ban hòa giải thống nhất cho 02 gia đình tự thỏa thuận với nhau. Khi tôi giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã H (từ năm 1993 đến 06/2005) các giấy tờ, tài liệu liên quan hiện nay tôi không lưu giữ; về con đường, đã tồn tại từ rất lâu, trước khi có HTX là đường đi chung của nhân dân trong xóm, khi gia đình bà N2 ông T6 có phát sinh mâu thuẫn, được Tổ dân phố giải quyết sự việc theo (biên bản giải quyết ngày 24/01/2003).
- Biên bản lời khai ngày 24/6/2025, bà Đàm Thị T4 cho biết: Tôi là em gái ruột của bà Đàm Thị N2 và ông Đàm Đức T6, toàn bộ diện tích đất ao hiện hai bên đang tranh chấp, trước đây là đất ruộng, về nguồn gốc do chị N2 khi đó đi buôn muối có tiền mua được, mua đất với ông T8 Phi người ở phố cũ. Khi đó tôi được biết bà N2 và mẹ để tôi có mặt khi mua bán. Tại thời điểm đó khi mua, bán đất không lập giấy tờ gì, mẹ tôi có nói rằng (đây là đám ruộng của chị N2 mua được, không phải tiền của mẹ), mua được đất ruộng, chị N2 cho mẹ tôi canh tác trồng trọt. Khi mẹ tôi qua đời, gia đình vợ chồng anh T6 do hoàn cảnh khó khăn, tiếp tục mượn chị N2 canh tác, sau khi tan HTX, chị N2 có đến nhận đất của mình, anh T6 có nói hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nói với chị N2 tiếp tục cho mượn đất. Khi con trai anh T6 đi bộ đội nghĩa vụ về, chị N2 có đòi đất nhưng anh T6 tiếp tục hỏi cho mượn đất để làm ao thả cá, chị N2 vì lo gia đình em trai khó khăn nên tiếp tục đồng ý cho sử dụng đất. Do quá tin tưởng em trai ruột, khi đó chị N2 chưa đi làm thủ tục xin cấp GCN-QSDĐ. Sau này, mẹ con bà Y1 đối xử không tốt với chị N2 nên đã xảy ra mẫu thuẫn, chị N2 đã nhiều lần đòi lại đất, nhưng gia đình bà Y1 không trả.
* Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá thửa đất tranh chấp:
- Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2025, các thửa đất tranh chấp được tiến hành đo đạc và có trính lục các thửa, cụ thể; Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính năm 1995 (nay là thửa số 49, tờ bản đồ số 27, bản đồ địa chính năm 2015), đất ao có tổng diện tích 1705,7m² địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (nay là Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng).
Vị trí tiếp giáp của thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2, diện tích 453,1 m² mang tên Nông Thị N1 tiếp với đường đi và thửa đất số 208, tờ bản đồ số 27, có diện tích 103,6 m² của gia đình bà Trần Thị Y1 áp diện tích các thửa đất trên, so sánh với đoạn đường đi chung cộng đồng.
- Có các vị trí tiếp giáp của phần đất đường đi:
Phía Đông, giáp đường B;
Phía Tây, giáp đường 1 - 4;
Phía Nam, giáp đất bà Nông Thị N1;
Phía Bắc, giáp đường Bê tông.
- Về tứ cận tiếp giáp của phần đất ao
Phía Đông, giáp đất Triệu Văn C1;
Phía Tây, giáp đường bê tông và đất bà Trần Thị Y1;
Phía Nam, giáp đường bê tông;
Phía Bắc, giáp đất bà Nguyễn Thị B.
- Về công trình xây dựng trên đất đường đi: Theo các đương sự, phần tường rào xây gạch chỉ không trát, cao 1,2m do gia đình bà Nông Thị N1 xây dựng.
- Về công trình xây dựng trên đất ao do gia đình bà Y1 xây dựng. Về Hoa màu trên phần đất ao: cá rô phi, cá chắm cỏ, cá chép.
*Tại biên bản định giá tài sản ngày 19/8/2025:
- Thửa đất tranh chấp số 49, tờ bản đồ số 27 là đất nuôi trồng thủy sản vùng 1, diện tích 1992,7m² có trị giá bằng số tiền 139.559.000 đồng,
- Giá trị phần đường đi chung tranh chấp: 10.886.400 đồng,
- Giá trị tài sản trên đất: 110.730.229 đồng,
- Giá trị vật nuôi thủy sản: 18.392.400 đồng,
Tổng giá trị tài sản tranh chấp: 279.568.029 đồng,
* TAND khu vực I- Cao Bằng có văn bản gửi các cơ quan chuyên môn Chính quyền địa phương để thu thập tài liệu, chứng cứ:
Kết quả trả lời, thể hiện như sau:
- Tại văn bản số 3868/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 15/8/2025 về việc cung cấp thông tin, tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án.
- Căn cứ quy định tại Mục I phần 2 Thông tư 346/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính: Hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCN-QSDĐ và "Thủ tục đăng ký đất đai, xét duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".
Hồ sơ kê khai, đăng ký cấp GCN-QSDĐ của ông Lê Minh H2 và gia đình bà Trần Thị Y1 được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, qua khai thác hồ sơ tại kho lưu trữ chỉ có lưu trữ thành phần liệt kê ở mục đầu nên chỉ có thành phần như vậy nên sở Nông nghiệp và môi trường không có cơ sở để trả lời đối với trình tự, thủ tục thực hiện.
- Ngoài các nội dung đăng ký biến động tại trang 4 và trang bổ sung của Giấy chứng nhận (đính kèm báo cáo) thì không có nội dung biến động nào khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn yêu cầu gia đình bà Trần Thị Y1 chấm dứt hành vi lấn chiếm đất đường đi chung của cộng đồng 10,1m², không di chuyển vị trí lấn sang một phần diện tích 42m của thửa đất số 19, tờ bản đồ số 9, gia đình bà Nông Thị N1. Yêu cầu gia đình bà Trần Thị Y1 trả lại cho gia đình nguyên đơn tổng diện tích đất 1705,7m², lấp ao, khôi phục lại diện tích đất ruộng.
Bị đơn bà Trần Thị Y1 không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết, bác đơn khởi kiện của nguyên đơn vì không có căn cứ pháp lý.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện Luật sư -Nguyễn Trung D trình bày luận cứ: Đề nghị HĐXX căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 166 Bộ luật dân sự (năm 2015) về "Quyền đòi lại tài sản", chấp nhận đơn khởi kiện, buộc gia đình bà Trần Thị Y1 trả lại diện tích đất lấn chiếm một phần diện tích liền kề với đoạn đường đi chung của cộng đồng, theo Biên bản giải quyết của tổ dân phố ngày 24/01/2003 và thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, diện tích 1705,7m² đất ruộng, nay là ao thả cá.
Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của TAND khu vực 1 – Cao Bằng. Căn cứ khoản 9, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1, Điều 147, 157, 165, và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 163, 164, 165 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 17, Điều 26, Điều 31, Điều 236 của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N, Nông Thị N1, Lê Thị T yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Y1 chấm dứt hành vi lấn chiếm đất đường đi chung của cộng đồng, không di chuyển vị trí đường sang đất của gia đình nguyên đơn tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 09; yêu cầu, bị đơn bà Trần Thị Y1 trả lại cho gia đình nguyên đơn diện tích đất (khoảng 2.000m²) thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính năm 1995 (nay là thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, bản đồ địa chính năm 2015) diện tích 1998m², địa chỉ tại: Tổ H, phường T, tỉnh Cao Bằng, lấp ao khôi phục lại đất ruộng của nguyên đơn, vì không có căn cứ pháp lý.
- Đề nghị hai bên nguyên, bị đơn tôn trọng ranh giới đã được cấp GCN - QSDĐ cũng như ranh giới tại biên bản giải quyết ngày 24/01/2003.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản tranh chấp và án phí, về quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2025 nguyên đơn các bà Lê Thị N, Lê Thị T, Nông Thị N1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để xem xét giải quyết xét xử lại.
TAND khu vực 1- Cao Bằng đã có Quyết định sửa chữa, bổ sung số 07/2025/QĐ-SCBSBA ngày 13/12/2025 đính chính, bổ sung tại phần quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025. Đúng với tổng diện tích thực tế, của cơ quan chuyên môn đo đạc xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, diện tích 1705.7 m².
TAND tỉnh Cao Bằng thụ lý vụ án Dân sự phúc thẩm số 14/DS-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025.
Trong giai đoạn giải quyết phúc thẩm, bị đơn bà Trần Thị Y1 đã làm Đơn mời Luật sư - Nguyễn Hải Y, sinh năm 1989 Công ty Luật TNHH -YJM tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn.
Ngày 06/12/2025, Luật sư - Nguyễn Hải Y có văn bản đề nghị TAND tỉnh Cao Bằng tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ vụ án, mục đích để có căn cứ làm rõ cho việc giải quyết vụ án. Yêu cầu các bên liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ, quản lý tài liệu, cung cấp chứng cứ đó đang giữ, như bản đồ địa chính và sổ mục kê từ năm 1954 đối với thửa đất số 20, tờ bản đồ số 9 (năm 1995), diện tích 1998m² địa chỉ; xã H, thị xã C, tỉnh Cao Bằng (nay là thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, địa chỉ: Tổ dân phố A, phương H, tỉnh Cao Bằng).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn ông Nguyễn Trung D đặt câu hỏi đối với bị đơn. Cụ thể, khi Tổ dân P (tổ 2 cũ) giải quyết sự việc tranh chấp, bị đơn có mặt tại buổi giải quyết hay không (ngày 29/01/2003) và thửa đất hiện nay là ao thả cá, yêu cầu bị đơn cho biết rõ về nguồn gốc đất ai là người mua và mua với ai, đưa ra quan điểm tranh tụng với người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, đề nghị HĐXX xem xét, đánh giá chứng cứ.
Các nguyên đơn bà Lê Thị N, Nông Thị N1 và Lê Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ diện tích 1992.7m² (đất ao) tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, hiện nay bà Trần Thị Y1 đã được cấp GCN-QSDĐ vào sổ cấp giấy: VP01348, cấp ngày 01/11/2023. Nhất trí theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm, với tổng diện tích thực tế theo trích đo của thửa đất ao với diện tích 1705,7m².
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tranh tụng: Tôi nhất trí với nội dung, lời trình bày của người đại diện cho bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm. Đề nghị HĐXX xem xét đến người trực tiếp quản lý sử dụng, canh tác thường xuyên, khi kê khai đất và cấp GCN-QSDĐ không có việc tranh chấp xảy ra, bên nguyên đơn chỉ căn cứ vào lời trình bày của các nhân chứng trình bày lại, không biết sự việc rõ ràng, vì chính các nguyên đơn và người làm chứng cũng không biết rõ sự việc, chỉ được nghe kể lại và cho rằng sau khi mua đất bà N2 có quản lý sử dụng một thời gian ngắn, rồi đưa đất nhập vào HTX Đ4 và khi tan HTX bà N2 có làm đơn nhận đất, nhưng gia đình bà Y1 đến nhận đất, khi đó lại không thể hiện là có khởi kiện, cho đến năm 1997 mới phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, không có bất cứ tài liệu, giấy tờ nào chứng minh rằng việc gia đình bị đơn có được mượn đất với gia đình bà N2 hay không. Do đó, cần xem xét trên cơ sở pháp luật để xác định rõ ràng.
Khi gia đình bà N1 xây dựng lại đoạn tường rào bằng gạch bị đổ, đã xây dựng lấn chiếm sang diện tích đường đi cộng đồng 40cm, như vậy gia đình tôi không nhất trí nên đã thông báo lên chính quyền đến giải quyết. Đất đai của gia đình tôi không có biến động xây hoặc xây dựng mới, các vị trí mốc giới có tiếp giáp với đường đi lại của nhân trong xóm, vẫn giữ nguyên trạng từ trước đến nay, không có việc xây dựng để lẫn chiếm đất, như nguyên đơn trình bày là không có cơ sở. Mặt khác, từ khi phát tranh chấp vào (năm 2003) hai bên gia đình đã được chính quyền địa phương giải quyết và xác định ranh giới rõ ràng, đề nghị HĐXX xem xét đến kết quả của cơ quan chuyên môn, để có căn cứ xác định rõ đối với diện tích đang có tranh chấp.
Nguyên đơn bà Nông Thị N1 giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm buộc gia đình bà Trần Thị Y1 trả lại diện tích đất đã chiếm một phần diện tích ra đường đi lại cộng đồng là 10.1m², không được phép xê dịch vị trí diện tích con đường đi chung lẫn sang sang một phần diện tích đất của gia đình tôi.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Tổ dân phố H: người đại diện bà Đàm Thị Thu H1 - Tổ trưởng, có mở cuộc họp tổ dân phố để lấy ý kiến của nhân dân, thể hiện được ý kiến của người dân đối với đường đi chung cộng đồng Ngõ C, thuộc tổ H, kết luận như sau: Quan điểm của Tổ dân P, giữ nguyên ý kiến của người đại diện đã tình bày tại cấp sơ thẩm, đề nghị HĐXX giải quyết căn cứ vào Biên bản cuộc họp tổ Hòa Chung 1, ngày 21/12/2025 nhân dân trong tổ dân phố, không có ý kiến gì đến việc tranh chấp đường đi cộng đồng, mong hai bên gia đình giải quyết ổn thỏa, không gây mất an ninh trật tự tại tổ, còn về mốc giới tổ dân phố không nắm rõ. Đề nghị HĐXX giải quyết theo đúng với các quy định của pháp luật. Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.
Kiểm sát viên, đại diện viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: nguyên đơn, bị đơn, người có QL&NVLQ và người đại diện theo ủy quyền, đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật tố tụng.
Về đường lối giải quyết: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng của các đương sự và tranh luận tại phiên tòa. HĐXX xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N, Lê Thị T và Nông Thị N1.
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 308 BLTTDS năm 2015 (được sủa đổi bổ sung năm 2025). Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn Lê Thị N, Nông Thị N1 và Lê Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của TAND khu vực 1- Cao Bằng.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và giao nộp chứng cứ, hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí và gửi biên lai cho Tòa án trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đề nghị, xem xét đánh giá, đầy đủ, toàn diện các chứng cứ đã thu thập được, để chứng minh về quá trình sử dụng, nghĩa vụ nộp thuế và các căn cứ để được cấp GCN- QSDĐ đúng với các quy định của pháp luật về đất đai. Hội đồng xét xử tiến hành xem xét, đánh giá, dựa trên các chứng cứ vụ án được thu thập hợp lệ, công khai theo đúng với các quy định của pháp luật để giải quyết dứt điểm vụ án. Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.
- Xét nội dung và căn cứ kháng cáo:
3.1. TAND khu vực 1- Cao Bằng xét xử và ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025. Ngày 09/10/2025 nguyên đơn các bà Lê Thị N, Lê Thị T và Nông Thị N1 có Đơn kháng cáo. Do đó, nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định và hợp lệ.
3.2. Nội dung kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp việc có sự lấn chiếm xê dịch hiện trạng diện tích đất, vượt sang ranh giới đất của hai bên gia đình bà N1 42m² và gia đình bà Y1 đã lấn vào diện tích diện tích của đường đi lại trong tổ dân phố. HĐXX xét thấy cả hai bên gia đình Bà Nông Thị N1 và bà Trần Thị Y1 đều có diện tích đất cụ thể theo số thửa đất và có vị trí tiếp giáp, liền kề với đường đi cộng đồng, có số thửa, diện tích rõ ràng và mỗi bên đều được cấp GCN-QSDĐ. Do đó, xác định với tư cách là nguyên đơn là có căn cứ. Tổ dân phố H3, là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, trường hợp quyền lợi bị ảnh hưởng và có yêu cầu khởi kiện thì người đại diên sẽ là nguyên đơn dân sự; tuy nhiên, tổ dân phố không có yêu cầu gì đối với đường đi cộng đồng. Do đó, chủ thể tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa liên quan là có căn cứ pháp luật.
Như vậy, dựa trên kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và căn cứ vào diện tích thực tế, do cơ quan chuyên môn xác định theo sơ đồ trích đo thửa đất, xem xét đối chiếu diện tích thực tế đất được cấp của hai bên, để xác định rõ mốc so với diện tích chiều rộng của đường đi lại cộng đồng.
Xét đến nguồn gốc đường đi lại cộng đồng tổ dân phố H, đã tồn tại từ trước thời kỳ Hợp tác xã (HTX) Đại Thắng. Đến năm 2003 hai gia đình ông Đàm Đức T6 và bà Đàm Thị N2 phát sinh tranh chấp về ranh giới hai gia đình, đã được (Tổ 2 cũ) Tổ dân phố, tiến hành hòa giải và giải quyết tranh chấp, theo Biên bản giải quyết vào ngày 24/01/2003, hai bên gia đình đã ký cam kết thực hiện.
Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn trình bày diện tích đất tranh chấp bị lấn sang 3,86 m² một phần đất của gia đình nguyên đơn. HĐXX xem xét đến quá trình áp dụng của cơ quan chuyên môn, áp diện tích thực tế trên bản đồ địa chính (bản đồ năm 1995, với bản đồ địa chính năm 2015) hai bên gia đình đã được cấp GCN-QSDĐ mang tên Nông Thị N1 đối với thửa 27, diện tích 453,1m² và bà Trần Thị Y1 đối với thửa 208, diện tích 103,6 m². Diện tích của đoạn đường rộng 2,93 m². Do đó, các bên đương sự cần giữ nguyên hiện trạng theo diện tích sử dụng, theo mốc giới đã phân định rõ (từ năm 2003) các bên đã kê khai đất đúng với diện tích được cấp của mỗi bên gia đình trong GCN-QSDĐ riêng biệt, không tự ý phát sinh tranh chấp, dẫn đến vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.
Việc tranh chấp đất giáp ranh với diện tích đường đi cộng đồng, thuộc sở hữu chung nhân dân trong Tổ dân phố, người dân vẫn đi lại trên đoạn đường này, người đại diện cho Tổ dân phố H3 xác nhận, đã có thông báo trên bản tin chung đến với những hộ gia đình và người dân đi lại trên đoạn đường được biết, nhưng không ai có ý kiến phản hồi hoặc có yêu cầu gì khác. Ngoài ra, căn cứ vào ý kiến của nhân dân trong tổ dân phố tại Biên bản họp Tổ dân phố (ngày 21 tháng 12 năm 2025). Ý kiến của nhân dân trong tổ dân phố đối với đoạn đường D, tổ H, phường T kết luận, nhân dân không có ý kiến khởi kiện gì về con đường, đề nghị 02 bên gia đình đang có tranh chấp sớm giải quyết ổn thỏa, không gây mất An ninh trật tự tại Tổ dân phố. Về nguồn gốc con đường, tổ dân phố không nắm rõ diện tích, mốc giới nên không có ý kiến, chỉ mong hai gia đình thỏa thuận để người dân có con đường đi lại được thuận tiện hơn và đúng như hiện trạng trước đây. HĐXX nhận định, đường cộng đồng là chủ sở hữu chung, người đại diện tổ dân phố bà Đàm Thị Thu H1 – Tổ trưởng không có yêu cầu độc lập, cũng như cộng đồng sở hữu chung con đường không ủy quyền cho nguyên đơn để khởi kiện, đồng thời nguyên đơn không chứng minh được bị đơn xê dịch lẫn chiếm diện tích con đường vào thời gian nào, không có biên bản, tài liệu chứng cứ chứng minh. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tranh chấp một phần diện tích của đường đi lại cộng đồng trong Tổ dân phố H là có căn cứ.
Tại phiên toà, các nguyên đơn có giao nộp thêm chứng cứ mới là Đơn đề nghị sửa đổi bổ sung Giấy trình bày của người làm chứng bà Hoàng Thị T3 nội dung “trước đây ranh giới phần đất của ông Lê Viết T5 là bố ruột của các nguyên đơn, có một hàng rào tre chạy dọc từ đường cái xuống”. Ngoài ra, không bổ sung thêm được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ pháp luật. Do đó, HĐXX xét thấy, các chứng cứ bên nguyên đơn giao nộp, được đưa ra xem xét đánh giá tại cấp sơ thẩm, các ý kiến của người làm chứng trình bày là chỉ được biết và không có tài liệu nào để chứng minh nên không đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đề nghị của người Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ: Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự không tự thu thập được và có văn bản đề nghị. Ngày 06/01/2026 TAND tỉnh Cao Bằng tiến hành xác minh thu thập các tài liệu, chứng cứ tại UBND phường T. Kết quả tra cứu, đối với sổ mục kê và bản đồ địa chính năm 1954, không có lưu trữ tồn tại; ngày 08/01/2026 TAND tỉnh Cao Bằng có văn bản đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ3 đề nghị so sánh dựa trên kết quả chuyên môn, áp đối chiếu trích lục Bản đồ địa chính năm 1995 với Bản đồ địa chính năm 2015 để làm rõ đối với yêu cầu khởi kiện của các bên đương sự, đối với đoạn đường đi lại của tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng.
3.3 Nguyên đơn bà Lê Thị N, Lê Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo tại phiên tòa.
Xét yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn HĐXX nhận định; bà Trần Thị Y1 là người đã trực tiếp quản lý, sử dụng liên tục, khi có chủ trương của nhà nước bà Y1 đi kê khai đất đai của gia đình, tại thời điểm, kê khai đất không có việc tranh chấp và thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về đất đai. Ngày 10/12/1998 bà Y1 đã được cấp GCN-QSDĐ số K 310995 vào sổ cấp 00168 sau đó cấp đổi GCN-QSDĐ số DE 572419 ngày 01/11/2023.
Về nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sủ dụng, việc kê khai đất: diện tích thực tế và hiện trạng các thửa, theo sơ đồ trích đo thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, trích đo bản đồ địa chính ngày 13/01/2026. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ diện tích thửa đất số 49, tờ bản đồ số 27, diện tích 1705.7 m² lấp ao, khôi phục lại đất ruộng cho nguyên đơn là có căn cứ.
Khi đó, bà Đàm Thị N2 cùng con trai ông Lê Minh H2 được UBND xã H cho hai bên gia đình tự hòa giải đã thể hiện rõ, khi đó cả bà Đàm Thị N2 và ông Đàm Đ2 đều còn sống nhưng không ai có ý kiến gì, hai bên gia đình cùng được đi kê khai phần diện tích đất của gia đình mình, mỗi bên đều có sổ mục kê, sổ địa chính có diện tích riêng, theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, tại thời điểm đó bà Trần Thị Y1 đi kê khai phần đất ao, hiện nay có tranh chấp (khi đó là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 09), thể hiện rõ được ý chí, quan điểm hai bên đã tự hòa giải và thống nhất trong gia đình. Năm 1998, cả hai bên gia đình cùng được cấp GCN-QSDĐ, bên gia đình bà N2 cùng con trai ông Lê Minh H2 khi đó không có tranh chấp, khiếu nại tố cáo gì. Do đó, GCN-QSDĐ của hai gia đình đều có giá trị pháp lý theo đúng quy định của pháp luật.
Bà Trần Thị Y1 là người trực tiếp kê khai đất đai của gia đình với cơ quan Nhà nước để được cấp GCN-QSDĐ số DE 572419 ngày 01/11/2023.
Tại phần tranh luận người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn, đã có tranh luận đối đáp với quan điểm bị đơn trình bày và không có ý kiến gì thêm. HĐXX căn cứ vào tổng diện tích thực tế của thửa đất, được cơ quan chuyên môn xác định tại thực địa tại thửa đất, theo đúng ý kiến của đương sự, các bên tham gia có mặt, đã nhất trí ký tên, sử dụng làm căn cứ giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bản án sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu án phí là phù hợp với khoản 1, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự,
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn Lê Thị N, Lê Thị T và Nông Thị N1 không được HĐXX chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định, để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[6] Các nhận định khác: Quan điểm của vị đại diện VKSND tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự (được sửa đổi bổ sung năm 2025); khoản 1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N, Nông Thị N1 và Lê Thị T.
Giữ nguyên phần quyết định của Bản án Dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.
- Về án phí:
Nguyên đơn bà Lê Thị N, Lê Thị T và Nông Thị N1 phải nộp số tiền 300.000 đồng, án phí dân sự phúc thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. N3 được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng 300.000 đồng, tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên lai số 0000150 ngày 14/10/2025. Xác nhận, nguyên đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nông Đức Thọ |
Bản án số 09/2025/DS-PT ngày 19/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 09/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
