Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: /2026/HNGĐ-ST;

Ngày: 30/01/2026

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang;
Bà Nguyễn Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “ly hôn”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1978;
  • Địa chỉ: Số A, khu phố D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là: số A, khu phố D, xã M, tỉnh Vĩnh Long).
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Frank C, sinh năm: 1953; Quốc tịch: Hoa Kỳ;
  • Địa chỉ: D N W A, S, OK G, Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 07 năm 2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Huỳnh Frank C quen biết nhau qua mạng xã hội khoảng 01 năm, sau đó hai bên quyết định tiến tới hôn nhân. Ngày 14/12/2018, ông Huỳnh Frank C về Việt Nam mang theo giấy tờ độc thân và một số giấy tờ cần thiết khác để đăng ký kết hôn với bà T tại Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

Tuy nhiên, trong quá trình làm hồ sơ để bảo lãnh bà T, đã có một người phụ nữ tên M tại Hoa Kỳ, tự xưng là người yêu của ông C liên hệ cho bà T. Sau đó, người này về Việt Nam gặp bà T và gia đình bà T, xúc phạm bà T vô cớ, nhưng ông C không giải thích cho bà T về sự việc này. Vì vậy, hai bên đã xảy ra mâu thuẫn và sau đó bà T mất liên lạc với ông C. Đồng thời, ông C tự ý hủy hồ sơ bảo lãnh mà không thông báo cho bà T hay. Đến nay đã hơn 03 năm, bà T không nhận được bất kỳ thông tin gì liên quan đến ông C.

Do đó, bà T nhận thấy tình cảm giữa bà và ông C không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • -Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Frank C.
  • -Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Frank C đã được Tòa án tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp để thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập ông Huỳnh Frank C đến Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long) tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tuy nhiên, theo kết quả ủy thác tư pháp từ Bộ Tư pháp số 3618/BTP-PLQT ngày 02/10/2025 cho thấy, các tài liệu văn bản phía Tòa án gửi cho ông C theo địa chỉ mà bà T cung cấp và theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà T và ông C, nhưng Cơ quan có thẩm quyền của H chúng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác tư pháp do không có người nhận tại địa chỉ này. Toà án đã lập biên bản làm việc với bà T về việc yêu cầu đương sự cung cấp địa chỉ mới của ông Huỳnh Frank C nhưng bà không cung cấp được, đồng thời bà T có yêu cầu Tòa án thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Do đó, theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử trên Cổng thông tin điện tử của Toà án theo thời gian quy định. Tuy nhiên, ông Huỳnh Frank C vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Frank C theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Huỳnh Frank C là ly hôn. Bị đơn ông Huỳnh Frank C hiện đang ở nước ngoài (Hoa Kỳ), theo kết quả ủy thác tư pháp từ Bộ Tư pháp số 3618/BTP-PLQT ngày 02/10/2025 nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long).

[1.2] Ông Huỳnh Frank C là bị đơn trong vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Frank C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Huỳnh Frank C đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 14/12/2018, số vào sổ đăng ký kết hôn số: 27/2018; nên hôn nhân giữa ông C và bà T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[2.1] Bà T trình bày bà đã mất liên lạc với ông C, đồng thời, ông C tự ý hủy hồ sơ bảo lãnh mà không thông báo cho bà T hay. Đến nay đã hơn 03 năm, bà T không nhận được bất kỳ thông tin gì liên quan đến ông C. Do đó, bà T nhận thấy tình cảm giữa bà và ông C không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tại cuộc sống vợ chồng giữa ông C và bà T không thể hàn gắn.

[2.2] Hội đồng xét xử thấy rằng ông C và bà T không đưa ra được giải pháp hàn gắn đoàn tụ. Từ kết quả ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp số 3618/BTP-PLQT ngày 02/10/2025 cho thấy, ông C đã không còn ở địa chỉ ở nước ngoài mà ông đã sử dụng để đăng ký kết hôn với bà T nhưng không thông báo cho bà T biết, hai người không còn liên lạc. Bà T và ông C hiện sống ở hai quốc gia khác nhau, ông bà không quan tâm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình trong một thời gian dài; sống ly thân, bỏ mặc nhau.

Hôn nhân giữa bà T và ông C được xem là không có tình nghĩa vợ chồng, lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông C là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày bà và ông C không có con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tòa án không nhận được văn bản ghi nhận ý kiến của ông Huỳnh Frank C và cũng không nhận được đơn yêu cầu độc lập của người khác nên không có cơ sở xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có quyền khởi kiện để Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngoài ra, bà T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và các Điều 147, 152, 153, 227, 228, 238, 477, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81,82, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.
    1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Frank C.
    2. Về con chung: Bà T và ông C không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
    3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của bà T là bà và ông Huỳnh Frank C không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không nhận được đơn yêu cầu độc lập nào của bên thứ ba nên không giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các bên đương sự có quyền khởi kiện vụ kiện khác.
  2. Về án phí, chi phí tố tụng:
    • Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu số 0005078 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long). Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
    • Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu phí thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007840 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long).
    • Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ chi phí tố tụng (dịch thuật; chuyển phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài) nên không phải nộp thêm.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • Ông Huỳnh Frank C hiện đang ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - STP TVL: 01;
  • - UBND xã Mỏ Cày: 01;
  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDTCHCM: 01;
  • - VCT&KSXXPT: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - THADS TVL: 01;
  • - Đương sự: 02;
  • - Lưu VP: 01;
  • - Phòng KTNV&THA: 01;
  • - Lưu: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lành      Nguyễn Thanh Trang

Nguyễn Thế Hồng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2026/HNGĐ-ST ngày 30/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về ly hôn

  • Số bản án: /2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Huỳnh Frank Chung - Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger