TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST ngày 23 - 01 - 2026 V/v “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình" |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng - Ông Ngô Đình Tưu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trung - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An: Bà Hoàng Thị Thanh - Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số: 107/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số:196/2025/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Ngô Thị P, sinh năm 1977
- Địa chỉ: xóm H, xã H, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- - Bị đơn: anh Cao Xuân C, sinh năm 1974
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm H, xã H, tỉnh Nghệ An.
- Hiện cư trú tại nước Lào (vắng mặt lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị Phương trình B:
Chị và anh Cao Xuân C tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1997 tại UBND xã D (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên hiện nay chị đã làm mất giấy đăng ký kết hôn chị đã đến UBND xã H xin xác nhận trích lục kết hôn nhưng UBND xã H không tìm thấy thông tin hồ sơ đăng ký kết hôn của chị và anh C nữa. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến khi anh C
sang Lào làm ăn nên tình cảm vợ chồng phai nhạt, đến năm 2016 thì vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm trách nhiệm với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh C để hai bên được giải phóng.
- Về con chung: Chị và anh Cao Xuân C có 02 con chung là Cao Xuân H, sinh ngày 28/02/21998 và Cao Thị Vân A, sinh ngày 18/7/2000. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, đều đã đi lao động có thu nhập, không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
+ Đối với bị đơn anh Cao Xuân C: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh Cao Xuân C có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án đồng thời niêm yết công khai các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh C theo quy định của pháp luật và đã tống đạt thông qua người thân và mẹ anh C là bà Phạm Thị B1, bà B1 đã nhận Thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết cũng như Quyết định xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa và tiến hành niêm yết tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án cho anh C theo quy định nhưng hiện tại anh C vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của bà Phạm Thị B1 mẹ đẻ của anh C, thì anh C và chị P trước khi đăng ký kết hôn có tìm hiểu nhau tự nguyện và làm đăng ký kết hôn và vợ chồng có 02 con chung là Cao Xuân H và Cao Thị Vân A hiện nay 02 cháu đã lớn và đã đi làm còn anh P con trai của bà hiện nay đã đi Lào làm ăn tuy nhiên vẫn thường xuyên điện thoại về cho gia đình, bà có hỏi anh C làm việc địa chỉ ra sao nhưng anh C không nói rõ địa chỉ hiện tại cho bà được biết, bà cũng đã thông báo cho anh Công việc chị P làm đơn ly hôn tại tòa án, anh C đã biết nhưng đến ngày xét xử vụ án anh C cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Toà án cũng đã tiến hành xác minh tại UBND xã H hiện nay anh C không có mặt tại địa phương. Tòa án cũng đã có công văn gửi Công an tỉnh N yêu cầu kiểm tra dữ liệu hệ thống quản lý xuất nhập cảnh, thì Công an tỉnh N có công văn số 5168/QLXNC - Đ1 ngày 05/12/2025 trả lời là anh Cao Xuân C xuất cảnh lần đầu ngày 07/3/2007 qua Cửa khẩu Lao Bảo bằng hộ chiếu B0247580, sau đó xuất nhập cảnh nhiều lần bằng các hộ chiếu số B0247580, B4613382; lần xuất cảnh gần đây là vào ngày 20/01/2020 qua cửa khẩu L bằng hộ chiếu số B4613382 hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc thu thập chứng cứ và xét xử vắng mặt bị đơn tuân thủ quy định pháp luật. Việc anh C vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị P, áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân & Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Ngô Thị P và anh Cao Xuân C. Về con chung chị P không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu. Về án phí: Nguyên đơn chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của chị P, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
(1) Về thẩm quyền: Chị Phương trình bày anh C hiện đang cư trú tại nước Lào nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh C là bà Phạm Thị B1 (mẹ đẻ của anh C) cung cấp thông tin hiện nay anh C đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh C thường xuyên gọi điện cho gia đình. Công an tỉnh N có công văn số 5168/QLXNC – Đ1 ngày 05/12/2025 trả lời là anh Cao Xuân C xuất cảnh lần đầu ngày 07/3/2007 qua Cửa khẩu Lao Bảo bằng hộ chiếu B0247580, sau đó xuất nhập cảnh nhiều lần bằng các hộ chiếu số B0247580, B4613382; lần xuất cảnh gần đây là vào ngày 20/01/2020 qua cửa khẩu L bằng hộ chiếu số B4613382 hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Do anh C trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại xóm H, xã H, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.
(2) Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà B1 (mẹ đẻ của anh C) cung cấp hiện nay anh C đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh C vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được chị P khởi kiện yêu cầu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với anh tại Tòa án nhưng anh C không có ý kiến gì. Như vậy, anh C đã biết được chị P yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
(3) Về nội dung:
(3.1) Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị P và anh Cao Xuân C kết hôn vào năm 1997 tại UBND xã D (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị P và anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu sau khi kết hôn
vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến khi anh C sang Lào làm ăn thì tình cảm vợ chồng phai nhạt, đến năm 2016 thì vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm trách nhiệm với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị P đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh C. Tại đơn xin sao lục đăng ký kết hôn ngày 15/8/2025, UBND xã H đã có công văn số 435/UBND - TPHT xác nhận. Quan kiểm tra hồ sơ lưu trữ hồ sơ kết hôn tại UBND xã H thì không thấy lưu hồ sơ đăng ký kết hôn của của chị Ngô Thị P và anh Cao Xuân C nữa. Nên có cơ sở xác nhận chị P và anh C có chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Ngô Thị P và anh Cao Xuân C và do đã mất giấy đăng ký kết hôn, tại UBND xã không có thông tin về thủ tục đăng ký kết hôn giữa chị và anh C nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh C.
(4) Về con chung: Chị P, anh C có 02 con chung Cao Xuân H, sinh ngày 28/02/21998 và Cao Thị Vân A, sinh ngày 18/7/2000. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, chị P không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
(5) Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
(6) Về án phí: Chị Ngô Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Khoản 1 Điều 14; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 40, Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị P.
(1) Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Ngô Thị P và anh Cao Xuân C.
(2) Về con chung: Chị P, anh C có 02 con chung Cao Xuân H, sinh ngày 28/02/21998 và Cao Thị Vân A, sinh ngày 18/7/2000. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, chị P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
(3) Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Thị P không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
(4) Về án phí: Buộc chị Ngô Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000784 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị P đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
(5) Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị P có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Cao Xuân C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
*Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Nhung |
Bản án số 07/2026/HNGĐ-ST ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân & gia đình
- Số bản án: 07/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Phương - Cao Xuân Công
