Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Bản án số: 07/2026/HS-ST
Ngày 29 - 01 - 2026.
 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tấn và ông Nguyễn Đình Bảng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký tòa án nhân dân khu vực 6 – Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An và điểm cầu thành phần phòng xử án trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với:

Bị cáo Phạm Văn Đ - sinh ngày 27/6/1984 (tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam) tại xã Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm V, xã Y, tỉnh Nghệ An. Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 9/12; con ông Phạm Văn T (đã mất) và bà Bùi Thị P; vợ Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) có một con sinh năm 2010. Tiền án: Ngày 15/9/2015 bị Toà án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 565/2025/HSPT; Ngày 11/01/2016 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 07/2016/HSST, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 565/2025/HSPT ngày 15/9/2015; Ngày 20/7/2016 bị Toà án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 83/2016/HSST, tổng hợp hình phạt 04 năm 06 tháng tù tại bản án số: 07/2016/HSST; Ngày 30/10/2024 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 107/2024/HSST. Nhân thân: Ngày 29/01/2008 bị Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 23/2008/HSST; Ngày 22/02/2011 bị Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phặt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 63/2011/HSST; Ngày 05/7/2024 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 21/2024/QĐ-TA. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt).

- Người bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1959 (vắng mặt).

Trú tại: Xóm V, xã Y, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+/Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Trú tại: Xóm C, xã Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Ông Phan Đăng H, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Trú tại: Xóm P, xã Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Bà Bùi Thị P, sinh năm 1950 (vắng mặt).

Trú tại: Xóm V, xã Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Phạm Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 22/10/2025 Phạm Văn Đ tự ý lấy chiếc xe đạp của bà Bùi Thị P để đi chơi, khi đi ngang qua nhà bà Phạm Thị L thuộc xóm V, xã V, tỉnh Nghệ An thấy không có ai trông coi nhà cửa thì Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phạm Văn Đ dừng xe dựng xe ở ngoài và trèo tường rào vào trong sân nhà bà L, thấy có nhiều bì lúa trước sân Đ đã lấy trộm 01 bì lúa sau đó mang ra để lên gác ba ga xe đạp chở đến nhà bà Nguyễn Thị L1 thuộc xóm C, xã Y, tỉnh Nghệ An. Khi bà L1 hỏi Đ “Lúa ai đây” thì Đ trả lời “Lúa nhà tôi”, sau đó bà L1 đồng ý mua với giá 7.000 đồng/kg, tổng số tiền là 300.000 đồng Đ cầm tiền và tiêu xài cá nhân.

Khoảng 08 giờ ngày 23/10/2025 Đ tiếp tục sử dụng xe đạp của bà P đi đến nhà bà Phạm Thị L. Đến nơi thấy nhà bà L không có người trông coi Đào trèo qua tường rào và lấy trộm 01 bì lúa mang ra xe chở đến nhà ông Phan Đăng H thuộc xóm P, xã Y, tỉnh Nghệ An để bán. Tại đây ông H có hỏi Đ là “Lúa của ai đây” Đào trả lời “Lúa của mình”, sau đó hai bên thống nhất mua bán với giá 7.000 đồng/kg tổng số tiền là 330.000 đồng, Đ cầm lấy tiền sau đó đã tiêu xài hết.

Khoảng 14 giờ ngày 24/10/2025 Đ tiếp tục sử dụng xe đạp của bà P đi đến nhà bà Phạm Thị L. Đến nơi thấy nhà bà L không có người trông coi Đ đến khu vực chuồng gà bắt trộm 02 con gà trống màu đỏ đen bỏ vào 01 bì xác rắn bên cạnh, sau đó mang ra xe chở đến khu vực chợ S thuộc xóm P, xã Y, tỉnh Nghệ An để bán. Tại đây Đ bán 02 con gà cho một người không rõ lai lịch tổng số tiền là 400.000 đồng sau đó tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 10 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản của UBND xã Y, tỉnh Nghệ An kết luận: “01 bì xác rắn màu trắng bên trong có chứa 47kg lúa khang dân tại thời điểm ngày 22/10/2025 có giá trị là 329.000 đồng; 01 bì xác rắn màu trắng bên trong có chưa 47kg lúa khang dân tại thời điểm ngày 23/10/2025 có giá trị là 329.000 đồng; 01 Con gà trống màu đen đỏ, loại gà mía, nặng 2,3 kg còn sống tại thời điểm ngày 24/10/2025 có giá trị là 276.000 đồng; 01 con gà trống màu đen đỏ, loại gà mía, nặng 2,5 kg còn sống tại thời điểm ngày 24/10/2025 có giá trị là 300.000 đồng”. Tổng giá trị tài sản mà Phạm Văn Đ trộm cắp là 1.234.000 đồng.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS-KV6 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Nghệ An truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Phạm Văn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì thêm, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Giá trị tài sản mà Phạm Văn Đ trộm cắp của bà Phạm Thị L là 1.234.000 đồng nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về tội này chưa được xoá án tích, do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An truy tố bị cáo theo điểm b, khoản 1, Điều 173 của BLHS là có căn cứ.

[3] Đây là vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm vào tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà tiếp tục vi phạm nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

[6] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với bà Bùi Thị P là chủ sử hữu chiếc xe đạp màu xanh không biết việc bị cáo Phan Văn Đ1 sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản, do đó không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Đối với ông Phan Đăng H, bà Nguyễn Thị L1 là người mua lúa của bị cáo Phan Văn Đ1 không biết tài sản đó là do Đ1 trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm trong vụ án này.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc xe đạp màu xanh, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Bùi Thị P, do đó cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà P là đúng quy định pháp luật.
  • - Đối với 02 bì xác rắn màu trắng bên trong có chứa 47 kg lúa khang dân cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại là đúng quy định pháp luật.
  • - Đối với 02 con gà đã bán cho người đàn ông không rõ lai lịch quá trình điều tra không thu hồi được nên không có căn cứ xem xét xử lý.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Phạm Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, ông Phan Đăng H không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên miễn xét.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn Đ 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2025.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Phạm Văn Đ phải nộp 200.000₫ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyên kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CS điều tra tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/HS-ST ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 07/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đào phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger