|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2026/DS-PT
Ngày: 13/01/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Vân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hành và ông Phạm Hải Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 158/2025/QĐ-PT, ngày 28/10/2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 188/2025/QĐ-PT, ngày 26/11/2025 và Thông báo số 702/TB-TA ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; giữa các bên đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Tuấn A; Địa chỉ: Số H, đường T, Tổ dân phố E, phường T, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lương Thanh V – thuộc Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: C H, phường T, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- - Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Tuyết T, sinh năm 1977 và ông Phan Văn P, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: thôn A, phường T, tỉnh Quảng Ngãi. Ông P ủy quyền cho bà T, có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T – Văn phòng Luật sư Nguyễn G, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q.
- * Người kháng cáo: Bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do quen biết và kinh doanh chung bất động sản nên ông Phan Văn P và bà Huỳnh Thị Tuyết T có đến nhà mượn của bà L số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn.
Ngày 10/4/2019, bà T mua chung lô đất nên mượn thêm bà số tiền 230.000.000 đồng; đồng thời có ủy quyền lại cho bà hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sau đây viết tắc GCNQSDĐ) thửa đất 986 và thửa đất 987, cùng tờ bản đồ số 22 mang tên của bà T và hứa một tháng sau trả nếu không trả sẽ để lại hai thửa đất đó cho bà L.
Ngày 19/4/2023, bà T mượn thêm 100.000.000 đồng, để đặt cọc mua đất, bán sẽ trả liền. Vì bà T kinh doanh bất động sản lâu năm nên bà tin tưởng nên cho mượn.
Ngày 20/5/2023, bà T nói không bán được đất nên mượn thêm 460.000.000 đồng để chồng tiền đủ cho chủ đất, hứa chắc chắn trong một tháng sang tên sổ đỏ xong sẽ vay ngân hàng trả đủ tất cả những nợ.
Sau đó, bà T tự viết giấy vay của bà tổng cộng 04 lần với số tiền 890.000.000 đồng và hẹn trả cho bà trong vòng 01 tháng.
Hết hạn nhiều lần bà đòi nợ nhưng vợ chồng bà T không chịu trả. Nay bà L yêu cầu Tòa án buộc ông Phan Văn P và bà Huỳnh Thị Tuyết T phải trả cho bà số tiền vay gốc: 890.000.000 đồng (T1 trăm chín mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả, tạm tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 11/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 74.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 964.000.000 đồng. Đây là khoản tiền riêng của cá nhân bà, không liên quan gì đến chồng bà là ông Hoàng Thiện K.
Đối với việc bà giữ 02 GCNQSDĐ nếu vợ chồng bà T trả lại 890.000.000 đồng thì bà sẽ trả lại.
2
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T trình bày:
Do quen biết và cần tiền để làm ăn nên bà có vay của bà L nhiều lần. Từ ngày 10/02/2022 đến ngày 11/4/2023, bà L chuyển khoản (từ số tài khoản 0271001057625 NGUYEN THI LE vào tài khoản của bà 1025472124 HUYNH THỊ TUYET TRINH) cho bà vay tổng số tiền gốc là 321.000.000 đồng, lãi suất từ 10%-50%/tháng; hình thức trả tiền lãi và tiền gốc theo tháng, cụ thể : Ngày 10/2/2022 vay 14.000.000 đồng; ngày 17/12/2022 vay 14.000.000 đồng; ngày 19/12/2022 vay 90.000.000 đồng; ngày 14/01/2023 vay 10.000.000 đồng; ngày 18/01/2023 vay 10.000.000 đồng; ngày 18/01/2023 vay 77.000.000 đồng; ngày 19/01/2023 vay 30.000.000 đồng; ngày 21/01/2023 vay 4.000.000 đồng; ngày 12/02/2023 vay 3.000.000 đồng; ngày 17/02/2023 vay 2.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 vay 2.000.000 đồng; ngày 8/3/2023 vay 4.000.000 đồng và 16.000.000 đồng; ngày 17/3/2023 vay 3.000.000 đồng và 1.500.000 đồng; ngày 20/3/2023 vay 2.500.000 đồng; ngày 4/4/2023 vay 2.000.000 đồng; ngày 10/4/2023 vay 5.000.000 đồng; ngày 14/4/2023 vay 5.000.000 đồng; ngày 10/5/2023 vay 2.000.000 đồng; ngày 12/5/2023 vay 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bà T thừa nhận số tiền trên, một phần để trả khoản nợ cho bà N; một phần để đặt cọc tiền mua đất; một phần dùng để sinh hoạt gia đình và tiêu xài cá nhân.
Quá trình vay, bà đã trả cho bà L số tiền lãi là 94.000.000 đồng (tiền mặt 22.000.000 đồng, chuyển khoản 72.000.000 đồng) và 45.000.000 đồng tiền gốc. Hiện nay, bà T thừa nhận còn nợ bà L số tiền 276.000.000 đồng. Đây là khoản nợ cá nhân nên đồng ý chỉ một mình bà trả nợ cho bà L
Đối với số tiền lãi 94.000.000 đồng đã trả cho bà L, bà không tranh chấp về lãi suất và không yêu cầu bà L trả lại khoản chênh lệch.
Quá trình cho vay, bà L có nhờ bà viết giấy mượn tiền 4 lần để đưa cho chồng bà L xem, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 01/01/2023 là 100.000.000 đồng;
- Lần 2: Ngày 10/04/2023 là 230.000.000 đồng;
- Lần 3: Ngày 19/04/2023 là 100.000.000 đồng;
- Lần 4: Ngày 20/05/2023 là 460.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền là 890.000.000 đồng. Nội dung trong giấy vay tiền là giả, thực tế bà không nhận số tiền 890.000.000 đồng; cũng không phải bà L tính lãi từ số tiền 321.000.000 đồng để buộc bà ghi lại khoản vay 890.000.000 đồng. Sau đó, bà L ép bà đưa 2 số đổ số C507587 và C507586 do bà T đứng tên để bà L giữ để đảm bảo khoản vay. Đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vay tài sản giữa bà với bà L số tiền 890.000.000 đồng do chính bà viết là vô hiệu do giả tạo.
3
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T trình bày:
Ông Phan Văn P làm nghề biển thường xuyên đi không có ở nhà. Gần đây ông bà L, thường xuyên đến nhà chửi bới, yêu cầu vợ chồng ông phải trả cho bà L số tiền 890.000.000. Sau đó, ông biết bà T vay nhiều lần, số tiền gốc là 321.000.000 đồng, lãi suất từ 10% - 50%/ tháng. Bà L chốt số tiền gốc và tiền lãi là số tiền 890.000.000 đồng, do không có khả năng trả lãi, bà L ép phải đưa 02 sổ đỏ số CS07587 và CS07586 do Sở T2 cấp ngày 06/02/2023, là không đúng pháp luật.
Việc bà T vay tiền của bà L, ông hoàn toàn không biết, không chứng kiến, không có chữ ký xác nhận và không có văn bản uỷ quyền của ông. Vì vậy, khoản vay này là riêng của bà L; mục đích vay không vì nhu cầu của gia đình nên cá nhân bà T tự chịu trách nhiệm, ông không liên quan. Đối với 02 sổ đỏ là tài sản chung của hai vợ chồng nên yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với giấy mượn tiền giữa bà L và bà T. Buộc bà L phải trả lại cho vợ chồng ông 02 GCNQSDĐ.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Ngãi) đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 117, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 463, Điều 466, Điều 468, khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ . Buộc vợ chồng ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 964.000.000 đồng (Chín trăm, sáu mươi bốn triệu đồng). Trong đó tiền gốc 890.000.000 đồng; tiền lãi 74.000.000 đồng.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn P: Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DK 585018, số vào sổ cấp CS.07587, thửa đất số 987 tờ bản đồ số 22 xã P; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DK 585017, số vào sổ cấp CS.07586, thửa đất số 986 tờ
4
bản đồ số 22 xã P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp cho bà Huỳnh Thị Tuyết T vào ngày 06/02/2023.
- - Không chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn P về việc tuyên bố hợp đồng vay tài sản số tiền 890.000.000 đồng (Giấy mượn tiền) giữa bà Nguyễn Thị L với bà Huỳnh Thị Tuyết T là vô hiệu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 25/6/2025, bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T kháng cáo một phần của Bản án Dân sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ (nay Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi). Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền gốc 890.000.000 đồng và tiền lãi 74.000.000 đồng tính từ khi Tòa thụ lý đến khi xét xử, để tránh thiệt hại và oan ức cho bà. Lý do: Giấy ghi nợ 890.000.000 là nội dung giả, thực tế bà chỉ vay bà L 321.000.000, qua chuyển khoản theo bản sao kê Ngân hàng từ ngày 07/9/2022 đến ngày 28/6/2023 và 01 tin nhắn từ điện thoại.
Ngày 18/12/2025, bị đơn bà T có đơn đề nghị chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra do có dấu hiệu hình sự. Từ ngày 10/12/2022 đến ngày 29/5/2023 bà L có chuyển khoản cho bà T mượn 428.210.000đ; cũng trong thời gian này bà T chuyển khoản trả bà L là 170.350.000đ. Ngày 21/7/2023, bà L nói bà T viết giấy mượn tiền tổng cộng 890.000.000 là nội dung giả. Việc bà L không công nhận khoản tiền 170.350.000đ bà đã chuyển khoản trả là hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự; đồng thời có nộp 01 USB niêm phong dấu của Văn phòng T3 và Vi bằng số 1027/2025/VB-TPLTT.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T. Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đơn kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ (nay Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi) là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn kháng cáo trong thời hạn đúng quy định tại Điều 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà T cho rằng số tiền 890.000.000 đồng ghi trong giấy vay là giấy giả mà thực tế chỉ vay 321.000.000 đồng nhưng trong quá trình xét xử phúc thẩm bà T lại khai vay số tiền 428.210.000 đồng, nhưng đã chuyển khoản trả bà L là 170.350.000 đồng, theo đơn ngày 18/12/2025, đề nghị chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
Xét lời khai của của bị đơn có sự mâu thuẫn về số tiền vay, lúc thì khai vay của bà L 321.000.000, lúc thì khai vay 428.210.000 đồng. Vì vậy, lời khai của bị đơn không phù hợp nên không có giá trị để chứng minh.
[2.2] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà L cung cấp giấy vay tiền ngày 20/5/2023. Tổng số 04 lần vay là 890.000.000 đồng, nội dung: “ngày 01/01/2023 mượn 100.000.000 (một trăm triệu); ngày 10/4/2023 mượn 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu); ngày 19/4/2023 mượn 100.000.000 (một trăm triệu); ngày 20/5/2023 mượn 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu), hứa 01 tháng sau trả cho em L, tôi đã nhận tiền mặt tại nhà em L”. Có chữ ký của người vay và người mượn, bị đơn thừa nhận chữ ký. Các đương sự đều thừa nhận có giấy mượn tiền này nhưng bị đơn cho rằng là giấy giả nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh là giả. Tại cấp phúc thẩm cung cấp sao kê và khai số tiền Lệ chuyển khoản cho T vay 428.210.000 đồng rất nhiều lần. Qua xem xét chứng này thấy rằng không thể hiện nội dung L chuyển khoản cho T. Mặt khác, có lần chuyển khoản 2.000.000 đồng; 2.500.000 đồng ...như vậy không phù hợp với chứng cứ là giấy vay tiền mà chính bị đơn bà T là người viết, ký và thừa nhận. Mặt khác, tại phiên tòa bà T khai, thời điểm viết giấy vay tinh thần bà minh mẫn, sáng suốt, không bị ai ép buộc. Như vậy, việc bà thừa nhận có viết giấy vay tiền là phù hợp, có căn cứ xác định bà T vay tiền của bà L số tiền 890.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 20/5/2023.
[2.3] Đối với các chứng cứ do bị đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm:
6
Đối với đoạn clip được bà T viết lại nội dung trong đơn kháng cáo, Vi bằng (bút lục 325, 326 và từ bút lục 379 đến 392) và các tin nhắn bà T cung cấp cho Tòa sơ thẩm, phúc thẩm (từ bút lục 58 đến bút lục 83 và bút lục 324), không có nội dung nào thể hiện bà L thừa nhận giấy ghi số tiền 890.000.000 đồng là giả.
Đối với các tài liệu bà T cung cấp cho cấp sơ thẩm thể hiện việc bà T tự ghi chép theo dõi ngày tháng năm, nợ gốc, lãi được đánh bút lục 136 đến 139 và bút lục 145, nhưng không có bất kỳ một chữ ký nào của bà L nên không có giá trị pháp lý.
Đối với sao kê ngân hàng bà T cung cấp cho Tòa án (từ bút lục 84 đến bút lục 135 và từ bút lục 280 đến bút lục 323) thể hiện từ ngày 01/9/2022 đến 28/8/2023, giữa bà T và bà L thực hiện nhiều giao dịch chuyển khoản qua lại, gồm:
- + Bà L đã chuyển khoản cho bà T tổng cộng 35 lần với tổng số tiền 407.200.000 đồng. Trong đó, 11 lần chuyển khoản có ghi nội dung (6 lần chuyển với tổng số tiền 264.000.000 có nội dung liên quan đến cho mượn tiền; 01 lần chuyển 3.000.000 có nội dung yêu cầu bà T trả tiền sớm, 04 lần chuyển tổng số tiền 60.000.000 liên quan đến đặt cọc đất); còn lại 24 lần chuyển đều không có nội dung.
- + Ngoài ra, trong khoảng thời gian nêu trên, bà T chuyển khoản cho bà L 28 lần với tổng số tiền 197.220.000. Trong đó, có 02 lần chuyển khoản với tổng số tiền 27.000.000 có ghi nội dung liên quan đến cọc đất, còn lại các lần chuyển khoản đều không có nội dung.
Điều này cho thấy ngoài việc mượn tiền, hai bà còn thực hiện nhiều giao dịch khác thông qua chuyển khoản. Mặt khác, bà L khẳng định số tiền bà chuyển khoản cho bà T không liên quan đến số tiền 890.000.000 đồng và bà T cũng thừa nhận số tiền 890.000.000 đồng ghi trong giấy nợ cũng không phải do bà L tính lãi trên số tiền nợ 321.000.000 đồng. Do đó, giấy vay tiền 890.000.000 do bà T tự tay viết và “hứa 01 tháng sau trả cho em L, tôi đã nhận tiền mặt tại nhà em L” bà T cho rằng nội dung giả không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà T khai trong các lần chuyển khoản trả trên có hai khoản bà chuyển trả nợ gốc cho bà L hai lần số tiền 45.000.000 đồng. Xét lời khai này của bà T phù hợp với sao kê chuyển khoản ngày 04/01/2023 số tiền 25.000.000 đồng và ngày 12/01/2023, số tiền 20.000.000 đồng. Vì vậy, HĐXX có căn cứ xác định bà T đã trả cho bà L số tiền 45.000.000 đồng, số tiền này được trừ vào tiền nợ gốc nên bà T còn nợ bà L số tiền 845.000.000 đồng (890.000.000 đồng – 45.000.000 đồng).
[2.4] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi từ ngày 21/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 11/6/2025) áp dụng mức lãi suất 10%/năm là
7
đúng quy định tại khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cấp sơ thẩm yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi là 74.000.000 đồng là phù hợp.
Từ những nhận định trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, cần sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi, buộc bà T trả cho bà L số tiền gốc 845.000.000 đồng và tiền lãi 74.000.000 đồng.
[3] Đối với đề nghị chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra do có dấu hiệu chiếm đoạt số tiền 170.350.000 đồng, thấy rằng:
Đây là khoản tiền bị đơn chuyển cho nguyên đơn, các đương sự có nghĩa vụ chứng minh, không phải là số tiền chiếm đoạt như bị đơn trình bày nên không có dấu hiệu hình sự.
Mặt khác, tại cấp sơ thẩm bà T đã tố cáo bà L có hành vi cho vay lãi nặng đến Công an thị xã Đ: Theo Công văn số 66/ĐCSHS-KT-MT ngày 25/01/2025 của Công an thị xã Đ (Nay là Công an tỉnh Q) đã tiến hành xác minh và trả lời không có căn để xác định việc bà L cho bà T vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
[4] Về án phí
[4.1] Về án phí sơ thẩm:
Buộc bà Huỳnh Thị Tuyết T, ông Phan Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là [36.000.000 đồng + ( 3% x 119.000.000 đồng)] = 39.570.000 đồng. Được trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Phan Văn P và bà Huỳnh Thị Tuyết T đã nộp. Ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T còn phải nộp 38.970.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí về phần yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp nhận và phần án phí dân sự sơ thẩm đối với nội dung phản tố của bị đơn ông P được Tòa án chấp nhận. Tổng án phí bà L phải chịu là 2.550.000 đồng (45.000.000 x 5% + 300.000 đồng). Được trừ vào số tiền 19.906.245 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị L đã nộp. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí 17.356.245 đồng.
[4.2] Về án phí phúc thẩm:
Kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các nội dung khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị đương sự kháng cáo, không bị Viện Kiểm sát kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
8
-
Căn cứ Điều 293; khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T đề ngày 25/6/2025.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi).
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,
Tuyên xử:
Buộc vợ chồng ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 919.000.000 đồng (Chín trăm, mười chín triệu đồng). Trong đó, tiền gốc 845.000.000 đồng; tiền lãi 74.000.000 đồng.
-
Về án phí
Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4,5 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án:
Buộc bà Huỳnh Thị Tuyết T, ông Phan Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 39.570.000 đồng. Được trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Phan Văn P đã nộp tại biên lai số 0001760 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ (nay là Phòng Thi hành án dân sự số 6 – Quảng Ngãi) và bà Huỳnh Thị Tuyết T đã nộp theo biên lai số 0000087 ngày 14/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Ông Phan Văn P, bà Huỳnh Thị Tuyết T còn phải nộp 38.970.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.550.000 đồng. Được trừ trong số tiền 19.906.245 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị L đã nộp tại biên lai số 0000361 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí 17.356.245 đồng mà bà L đã nộp tại biên lai số 0000361 ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ (nay là Phòng Thi hành án dân sự số 6 – Quảng Ngãi).
- Các nội dung khác của Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2025/DS-ST, ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi) không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (13/01/2026).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Vân |
10
11
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 07/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết T , sửa bản án dân sự sơ thẩm
