|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN Bản án số: 06/2026/HSST Ngày 13-01-2026 |
Mẫu số 27-HS (Ban hành theo NQ số 05/2017/NQ-HĐTP) CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Duệ
Ông Phan Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Vận - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, Nghệ An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn C. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 26/3/1987 tại xã Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản B, xã Q, tỉnh Nghệ An. Căn cước công dân số: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 7/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lữ Văn C1 và bà Lương Thị Bích. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 06/3/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng tại Quyết định số 30/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 08/8/2024. Nhân thân: Ngày 11/12/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng tại Quyết định số 100/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 08/5/2020. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2025 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 29/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Lữ Văn C đi bộ đến bản C, xã Q, tỉnh Nghệ An tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, C gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi “Có ma tuý bán không”, người đàn ông trả lời “Có, mua bao nhiêu”, C trả lời “Mua một trăm nghìn đồng” rồi C lấy số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông. Người đàn ông lấy từ trong người ra 01 gói được bọc phía ngoài bằng bao ni lông màu hồng bên trong chứa chất cục bột màu trắng (ma tuý loại Heroine) và 01 viên nén màu H (ma tuý H phiến loại Methamphetamine) đưa cho C. Chính cầm số ma túy vừa mua được đi đến bãi đất trống gần đó sử dụng bằng hình thức đổ ma tuý loại Heroine vào trong bơm kim tiêm pha lẫn với nước cất và lắc đều làm tan thành dung dịch sau đó tiêm dung dịch vào tĩnh mạch cánh tay phải của mình. Sử dụng xong, C tiếp tục lấy 01 viên nén màu hồng (ma tuý H phiến loại Methamphetamine) để lên tờ giấy bạc bao thuốc lá và dùng bật lửa đốt cháy đến khi khói bốc lên thì C dùng miệng hút vào sử dụng hết. Sau khi sử dụng hết ma tuý H1 và Hồng phiến, C ném toàn bộ công cụ trên vào bụi cây và đi về nhà.
Ngày 06/10/2025, Công an xã Q phối hợp Trung tâm y tế Quế Phong kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật đối với Lữ Văn C. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Lữ Văn C bằng phương pháp test nhanh nước tiểu, kết quả: “Dương tính với M”. Lữ Văn C khai nhận đã sử dụng ma túy trước đó nên Công an xã Q tiến hành lập biên bản làm việc, lấy mẫu tóc để giám định và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 08/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định Trưng cầu giám định số: 15580/QĐ-CSMT, giám định mẫu tóc thu giữ của Lữ Văn C tại V. Tại kết luận giám định độc chất số 820/1146/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 16/10/2025 của V, Bộ Y kết luận: "Mẫu tóc: Có tìm thấy M và M1; Không tìm thấy các chất ma túy khác nêu trên”.
Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương: Lữ Văn C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 08/08/2024 của UBND thị trấn K, huyện Q (nay là xã Q), tỉnh Nghệ An, thời gian quản lý sau cai nghiện từ ngày 08/8/2024 đến ngày 08/8/2026.
Cáo trạng số 39/CT-VKS-KV10 ngày 11/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Nghệ An đã quyết định truy tố Lữ Văn C ra trước Tòa án để xét xử về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đề nghị xử phạt Lữ Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng, không có ý kiến gì trong phần tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 12 giờ ngày 29/9/2025 bị cáo đi đến bản C, xã Q, tỉnh Nghệ An gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine và 01 viên Hồng phiến loại Methamphetamine với 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã lần lượt đưa ra sử dụng hết số ma túy vừa mua được. Qua test nhanh nước tiểu của bị cáo cho kết quả “Dương tính với M”.
Tại kết luận giám định độc chất số: 820/1146/25/KLGĐ ĐC-PYQG ngày 16/10/2025 của V, Bộ Y kết luận: “Mẫu tóc của bị cáo Lữ Văn C: Có tìm thấy M và M1; Không tìm thấy các chất ma túy khác nêu trên”.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 08/8/2024 của UBND thị trấn K, huyện Q (nay là xã Q), tỉnh Nghệ An, thời gian quản lý sau cai nghiện từ ngày 08/8/2024 đến ngày 08/8/2026. Mặc dù đang Trong thời gian quản lý sau cai nghiện nhưng bị cáo vẫn tìm mua và sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lữ Văn C đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 29/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ nhận thức nhất định về pháp luật để biết rằng các loại ma túy nói chung là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi sử dụng trái phép, mặc dù đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện nhưng bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường kỷ cương pháp luật, vẫn tìm mua ma túy để sử dụng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có một tiền sự và một nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và có một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt Lữ Văn C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/11/2025.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc Lữ Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Văn Linh |
4
Bản án số 06/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2026/HSST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lữ Văn Chính phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý
