Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG

Bản án số: 06/2026/HS-ST
Ngày 14- 01-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Dựng và ông Phạm Văn Biên

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tiến Đạt – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhuần và bà Lê Thị Hồng T - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Hữu M, sinh ngày 14/01/1982, tại thành phố Hải Phòng; CCCD số [...]; nơi ĐKHKTT: Số I A, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hữu M1 và bà Nguyễn Thị T1; gia đình bị cáo có 3 chị em, bị cáo là con thứ 3; có vợ Trần Thị D và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không.
    Nhân thân: Năm 1997, Đinh Hữu M bị Chủ tịch BND tỉnh H đưa vào trường G, thời gian chấp hành tại trường G là 12 tháng về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H từ ngày 17/7/2025 đến nay, có mặt.
  2. Họ và tên: Phạm Thành T2, sinh ngày 06/10/2003, tại thành phố Hải Phòng; CCCD số [...]; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị L; gia đình bị cáo có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/7/2025, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H từ ngày 17/7/2025 đến nay, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Lò Thị K, sinh năm 2008; địa chỉ: Bản H, xã B, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp luật của chị K:
    • Ông Lò Văn P, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản H, xã B, tỉnh Lai Châu.
    • Bà Lò Thị X, sinh năm 1989; địa chỉ: Bản H, xã B, tỉnh Lai Châu.
    Đều vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • Chị Phạm Thị Kim T4, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 11/7/2025, Đinh Hữu M gọi điện cho bạn là Phạm Thành T2 hẹn đến chơi tại quán K1, địa chỉ ở thôn D, xã A, thành phố Hải Phòng (do T2 làm quản lý). Sau đó, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 34AS-264.05 (do M mượn của vợ là chị Trần Thị D, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố Đ, phường A, thành phố Hải Phòng) đến quán karaoke Hoàng H. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi T2 đang ở phòng ngủ của Tĩnh tại quán cùng với Lò Thị K, sinh ngày 08/11/2008, trú tại bản Hợp Nhất, xã B, tỉnh Lai Châu (là nhân viên quán và là bạn gái của T2) thì M đến. Lúc này, M thấy trên mặt thùng bia “SAI GON” trong phòng có 01 đĩa sứ màu trắng nên lấy toàn bộ số ma túy loại Ketamine trong gói giấy bạc M đem theo cho ra đĩa để sử dụng. M hỏi Tĩnh “Thẻ đâu?”, T2 hiểu ý lấy thẻ để M đánh mịn ma túy Ketamine (còn gọi là “xào ke”) để sử dụng, T2 đồng ý và tự ý lấy 01 thẻ nhựa ATM mang tên “LO THI KIEU” trong ví của K để trên mặt thùng bia đưa cho M “xào ke”. Sau đó, M hỏi T2 “Có tờ tiền nào không?” để làm ống hút, T2 bảo không có, M bảo T2 ra mở cốp xe của M lấy 01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng, T2 đi ra lấy tờ tiền và lấy vỏ đầu lọc thuốc lá có sẵn ở gạt tàn trong phòng đưa cho M cuộn thành ống hút. Lúc này, K đang nằm trên giường quay mặt vào trong xem điện thoại nên không biết M và T2 chuẩn bị ma túy để sử dụng. Trong lúc T2 đi lên tầng 2 đóng cửa, M sử dụng ma túy bằng cách hít ma túy qua ống hút vào cơ thể, rồi để lại đĩa ma túy trên mặt thùng bia và mời K sử dụng. Khi T2 về phòng, M nói đã sử dụng ma túy và bảo T2 gọi 01 nhân viên đến hát cùng. Tĩnh gọi cho nhân viên Phạm Thị Kim T4, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh vào phòng hát số 4 cùng M, rồi về phòng ngủ của mình. Lúc này, K đã dùng ống hút hít ma túy trên đĩa nêu trên vào cơ thể, T2 về phòng lấy đĩa ma túy tự sử dụng, T2 mời K sử dụng thì K bảo sử dụng rồi. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, M quay lại phòng ngủ của T2 thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phối hợp với Công an xã A phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng nêu trên, có bám dính chất bột màu trắng, M, T2 và K đều khai là ma túy loại Ketamine và dụng cụ sử dụng ma túy. Ngoài ra, cơ quan Công an còn quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, gắn sim thuê bao số 0858.964.086 của M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ đen, gắn sim thuê bao số 0867.843.444 của T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật: Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút ngày 11/7/2025, tại quán K1, địa chỉ ở thôn D, xã A, thành phố Hải Phòng, Đinh Hữu M có hành vi cung cấp, chuẩn bị chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy; Phạm Thành T2 có hành vi dùng địa điểm do mình quản lý, tham gia chuẩn bị dụng cụ để M, T2 và Lò Thị K, sinh ngày 08/11/2008 (16 tuổi 08 tháng 03 ngày) sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Hữu M và Phạm Thành T2 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2/ Về hình phạt chính:

  • Xử phạt bị cáo Đinh Hữu M 07 (Bảy) năm 07 (B) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (11/7/2025).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thành T2 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (11/7/2025).
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN



Phạm Văn Biên     Nguyễn Chí Dựng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Đào Văn Phúc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2026/HS-ST ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 06/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Hữu Mạnh và Phạm Thành Tĩnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger