Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

Bản án số: 06/2026/HS-ST

Ngày: 09-01 - 2026.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Nguyễn Thị Hồ - Nghề nghiệp: Giáo viên
  • + Bà Lê Thị Thương - Nghề nghiệp: Cán bộ hội phụ nữ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Hùng N, sinh ngày 03/01/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT: thôn M, xã D, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: TDP 9a Phố R, xã B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hùng Đ và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 256/2024/HSST ngày 31/8/2024, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Gây rối trật tự công cộng” (phạm tội trong thời gian thử thách của án treo); D bản, chỉ bản số 1635 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 31/5/2025; bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2025 ( bị giam theo bản án trước từ ngày 25/01/2024 đến 27/6/2024); bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Đỗ Duy K, sinh năm 2006 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: TDP A, phường X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: sinh viên trường Cao đẳng B1; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tuấn N1 và bà Phạm Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; D bản, chỉ bản số 1365 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  3. Đỗ Đức Thiện T1, sinh ngày 05/6/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức H1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1745 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 06/6/2025; tạm giữ: từ ngày 21/5/2025 đến ngày 30/5/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Đức L, sinh ngày 07/7/2007 tại Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Thôn C, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị O; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 256/2024/HSST ngày 31/8/2024, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Gây rối trật tự công cộng” (phạm tội trong thời gian thử thách của án treo); D bản, chỉ bản số 1421 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 15/10/2025; bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2025; ( bị tạm giam theo bản án trước từ ngày 25/01/2024- 31/8/2024); có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 2006 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; D bản, chỉ bản số 1634 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 31/5/2025; bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến ngày 31/10/2025; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  6. Nguyễn Hữu P, sinh ngày 10/5/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn B S, xã S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D1 và bà Nguyễn Thị X1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1364 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  7. Nguyễn Trung H4, sinh ngày 21/11/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn N, xã H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Là học sinh lớp 12 trường T9; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị Q; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1746 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 06/6/2025; tạm giữ: từ ngày 21/5/2025 đến ngày 30/5/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  8. Nguyễn Tiến Nam P1, sinh ngày 13/12/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: Thôn C, xã D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Q1 và Phi Thị H5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1744 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 06/6/2025; tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến 30/5/2025; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  9. Phạm Quang K1, sinh ngày 15/11/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: Tổ I, phường P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: sinh viên trường Cao đẳng B1; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị Y; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1366 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  10. Hoàng Văn Đ2, sinh ngày 05/12/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn D T, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q2 và bà Nguyễn Thị T3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1368 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  11. Nguyễn Bá H6, sinh ngày 29/6/2006 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: Cụm A, xã Ô, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá T4 và bà Lê Thị L1; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 02/10/2024, Công an huyện Q, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích (phạt tiền); Nhân thân: Bản án số 91/2024/HSST ngày 29/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “ Gây rối trật tự công cộng” (phạm tội trong thời gian thử thách của án treo); D bản, chỉ bản số 1370 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; bị bắt tạm giam từ ngày 03/10/2025; có mặt tại phiên tòa.
  12. Hoàng Xuân B, sinh ngày 11/9/2008 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn A T, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T5 và bà Nguyễn Thị H7; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1367 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  13. Nguyễn Công P2, sinh ngày 20/12/2007 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn F T, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công T6 và bà Hoàng Thị T7; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản số 1369 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 03/10/2025; tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của Hoàng Xuân B: Ông Hoàng Văn T5, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H7, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố Hà Nội; có mặt

Người bào chữa cho Hoàng Xuân B, Phạm Quang K1, Hoàng Văn Đ2 và Nguyễn Công P2: Bà Hồ Bích P3- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt

Người bào chữa cho Nguyễn Tiến Nam P1, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Trung H4, Đỗ Đức Thiện T1: Bà Nguyễn Thị H- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/4/2025, fanpage của Công an thành phố H nhận được phản ánh từ công dân sử dụng tài khoản facebook “Đỗ Bảo Q3” về việc có nhóm nam thanh niên đuổi đánh nhau trên đoạn đường Quốc lộ 32 thuộc địa phận thôn L, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã H), gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn tại khu vực xã K, H. Trong số những người tham gia có Đỗ Hùng N đang trong thời gian thử thách của án treo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xác minh vụ việc. Kết quả điều tra làm rõ được như sau: Đỗ Duy K và Đỗ Hùng N có mâu thuẫn cãi vã nhau trên mạng xã hội. Tối ngày 22/4/2025, khi K đang ngồi ăn uống cùng một số bạn bè thì N nhắn tin thách thức đánh nhau. K rủ Phạm Quang K1 đi đánh nhau với N cùng K, K1 đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng không lắp biển kiểm soát, chở K1 đi đến khu vực khu công nghiệp vừa và nhỏ M, Bắc Từ L2. Tại đây, K lấy một thanh kiếm bằng kim loại dài khoảng 70cm tại bụi cỏ ven đường đưa cho K1 cầm rồi tiếp tục đi đến khu vực bãi tập kết rác ở đường X. Nguyễn Đức L là bạn của K biết việc K đi giải quyết mâu thuẫn với N nhóm nono nên rủ thêm Hoàng Văn Đ2, Nguyễn Công P2, Nguyễn Bá H6 và Hoàng Xuân B đi cùng. Tại đây, K nói chuyện với cả nhóm về việc Đỗ Hùng N thách thức đánh nhau tại khu vực cổng chào H và rủ mọi người cùng đi thì tất cả đều đồng ý đi tìm N để đánh nhau. Cả nhóm đi trên 03 xe mô tô gồm: Đỗ Duy K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng không lắp biển kiểm soát của gia đình K, chở Phạm Quang K1 cầm kiếm. Hoàng Xuân B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen biển kiểm soát 29X3- 460.40 của gia đình Nguyễn Bá H6 chở H6 ngồi giữa và Nguyễn Đức L ngồi sau. Hoàng Văn Đ2 điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, biển kiểm soát 29X3- 619.85 của gia đình Đ2 chở Nguyễn Công P2. Nhóm của K đi ra đường Quốc lộ 32 lên cổng chào Hoài Đ3 không thấy nhóm N thì quay về Nhổn.

Lúc này, nhóm của Đỗ Hùng N gồm có N, Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Tiến Nam P1, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Trung H4 đang ngồi uống nước tại thôn L, nhìn thấy nhóm của K thì bỏ chạy. T1 hô “tý ra cây xăng Đ4”. Cả nhóm hiểu là ra cây xăng tập trung để đi đánh nhau. N chở P1, Đ1 chở P về cây xăng chờ Đ4 đứng chờ. T1 gọi điện cho H4 nói cho H4 về việc bị nhóm của K đuổi đánh và rủ H4 đi đánh nhau. H4 đồng ý và lấy một thanh kiếm giấu trong tủ quần áo của H4 cầm theo. Khi cả nhóm tập trung ở cây xăng Đ4 thì thống nhất sẽ đi tìm nhóm của K để đánh trả thù. P1 nhặt cán chổi bằng inox đưa cho H4, H4 đưa kiếm cho P1, P nhặt một viên gạch vỡ ở ven đường cầm theo. Đỗ Hùng N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng không lắp biển số chở Nguyễn Tiến Nam P1 ngồi sau cầm kiếm. Đỗ Đức T8 T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade màu đỏ biển số 19H1- 269.24 của gia đình T1 chở Nguyễn Trung H4 ngồi sau cầm cán chổi bằng inox. Nguyễn Văn Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển số 70L1- 906.25 của gia đình Nguyễn Hữu P, chở P ngồi sau cầm nửa viên gạch. Nhóm của N đi từ cây xăng thôn P rẽ phải vào đường C hướng đi lên Nhổn không gặp nhóm N thì vòng về.

Cùng lúc này nhóm của K đi vòng thứ hai từ Nhổn đến khu vực đèn xanh đèn đỏ gần cổng khu đô thị H- D đang chuẩn bị quay đầu sang đường để đi về hướng cổng chào H thì thấy hai xe của nhóm N đi bên đường (lúc này xe của Đ1 và P đang rẽ vào đổ xăng ở cây xăng gần cổng khu đô thị H). Hai bên chửi, thách thức nhau. Nhóm của K quay đầu đi ngược chiều trên phần đường quốc lộ 32 hướng đi trung tâm Hà Nội để đối đầu đánh nhau với nhóm của N. K đi đầu lượn vòng quanh chửi, đuổi đánh nhau với hai xe máy nhóm của N rồi ngả xe nằm ra đường để chặn, K cầm thanh kiếm chạy bộ đuổi theo nhóm của N. Nhóm của N thấy nhóm của K đông hơn nên bỏ chạy về hướng Nhổn. Thấy nhóm của N bỏ chạy về hướng Nhổn thì hai xe của B và Đ2 điều khiển quay đầu đuổi theo, K ném thanh kiếm cho K1 rồi chạy bộ ngược về lấy xe máy chở K1 đuổi theo. Toàn bộ quá trình đuổi đánh nhau, cả hai nhóm hò hét, quẹt kiếm và cán chổi xuống đường, giơ gạch về phía đối thủ, gây náo loạn khiến những người đi đường hoảng sợ phải dạt vào bên đường hoặc dừng lại chờ hai nhóm đi qua. Nhóm của K đuổi theo nhóm của N về cổng chào H gần Đại học công nghiệp thì mất dấu nên không đuổi theo nữa. Sau đó, tất cả giải tán đi về.

Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 (một) thanh kiếm dài 01m bằng kim loại, chuôi màu đen, lưỡi màu trắng, đầu nhọn, có vỏ bằng gỗ màu đen do Nguyễn Trung H4 giao nộp. Đối với thanh kiếm Đỗ Duy K sử dụng: Quá trình điều tra, K khai cất giấu lại thanh kiếm ở bụi cỏ gần khu vực khu công nghiệp vừa và nhỏ N thuộc phường P, quận N, thành phố Hà Nội (nay là phường X, thành phố Hà Nội). Cơ quan điều tra tiến hành rà soát truy tìm tuy nhiên không thu giữ được.

Đối với chiếc cán chổi và viên gạch do Nguyễn Tiến Nam P1 và Nguyễn Hữu P sử dụng khi đi đánh nhau, P1 và P đã ném bỏ nhưng không nhớ vị trí. Cơ quan điều tra tiến hành rà soát truy tìm nhưng không thu giữ được.

Cơ quan điều tra đã dẫn giải các bị cáo, xác định được vị trí hai nhóm đuổi đánh nhau là khu vực đường Q đoạn thôn L, nơi có mật độ phương tiện tham gia giao thông đông, mặc dù sự việc xảy ra vào buổi tối nhưng vẫn có nhiều người đi đường. Hành vi của các đối tượng đã gây dư luận xấu và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại nơi địa phương xảy ra vụ án, làm ảnh hưởng đến những người tham gia giao thông trên đường.

Đối với các xe mô tô các bị can Đỗ Duy K, Nguyễn Bá H6, Hoàng Văn Đ2, Đỗ Hùng N, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Hữu P sử dụng để đuổi đánh nhau. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình các bị can K, H6, Đ2, N, T1, P đã thu xe từ các bị can và bán các xe nêu trên. Do không xác định được nhân thân người mua xe nên Cơ quan điều tra không thu giữ được

Cáo trạng số 14/CT- VKSKV8 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố các bị cáo Đỗ Hùng N, Đỗ Duy K, Phạm Quang K1, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Đức L, Hoàng Văn Đ2, Nguyễn Bá H6, Nguyễn Trần Nam P4, Nguyễn Trung H4, Hoàng Xuân B, Nguyễn Công P2, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đỗ Hùng N khai: N và Đỗ Duy K quen biết và chơi với nhau một thời gian rồi xảy ra mâu thuẫn. Trước khi xảy ra sự việc khoảng một tuần, cả hai xảy ra mâu thuẫn nên N nhắn tin thách thức K hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn. Đến ngày 22/4/2025, cả hai hẹn đánh nhau ở khu vực cổng chào H. Nhóm của N có 6 người gồm N, T1, P4, Đ1, Hữu P và H4. Hung khí mang theo là một cây kiếm của H4, một cán chổi bằng inox P4 nhặt ở bãi rác gần cây xăng Đ4 và một viên gạch vỡ P nhặt ở ven đường. Nhóm N đi bằng 03 xe mô tô trong đó N đi xe SH màu trắng đèo P4. Nhóm N đi từ cây xăng Đ4 ra đường Q để đi tìm nhóm của K. Khoảng gần 12 giờ đêm, khi đi đến khu vực đèn xanh đèn đỏ gần cổng chào khu đô thị H- D thuộc địa phận thôn L, xã K, huyện H thì gặp nhóm của K. K và bạn của K cầm một con dao đuổi theo xe của N và T1. Nhóm N bỏ chạy về hướng Nhổn. P4 cầm kiếm giơ lên, H4 cầm cán chổi mài xuống đường. P cầm viên gạch vỡ giơ về phía nhóm K. Nhóm N chạy đến ngã tư thì quay lại hướng đi về Đ, P4 vứt bỏ cán chổi rồi cả nhóm giải tán. Quá trình đuổi nhau, nhóm của N đi xe với tốc độ cao khoảng 80km/h, lạng lách, đánh võng, có lúc đi ngược chiều, vừa đi xe vừa chửi nhau với nhóm K gây ầm ĩ, huyên náo một đoạn đường. Do thấy nhóm của K đông và nhiều vũ khí hơn nên nhóm N bỏ chạy nên không có ai bị thương và thiệt hại gì về tài sản.

Nguyễn Văn Đ1 khai: Khoảng 21 giờ 30 ngày 22/4/2025, Đ1 cùng với N, P4, T1, Hữu P ngồi uống nước ở Lai xá, K, H. Đến khoảng 22 giờ thì thấy nhóm của K đi 03 xe máy đi từ hướng Nhổn về hướng ngã tư T. Khi nhìn thấy nhóm của Đ1 thì nhóm đó hô lên “chúng nó kìa”. Thấy vậy, nhóm của Đ1 lấy xe đi và hẹn nhau gặp ở khu vực cây xăng Đ4. Sau đó, T1 chở thêm H4 cầm kiếm đến. Tại đây, nhóm của Đ1 thống nhất đi tìm nhóm vừa chửi mình để đánh. P4 nhặt một cái chổi có cán bằng inox ở gần nhà dân và lấy phần cán cầm theo. Cả nhóm đi đến khu vực Lai xá để tìm nhóm kia. Đ1 đi xe Vario màu trắng không lắp biển kiểm soát của P chở P. Hai nhóm đuổi nhau trên đường C đoạn qua thôn L gây náo loạn một lúc thì nhóm Đ1 bỏ chạy thoát rồi giải tán.

Nguyễn Tiến Nam P1 khai: Tối ngày 22/4/2025, P1 ngồi uống nước với N và các bạn cùng nhóm là Đ1, T1, Hữu P tại thôn L đến khoảng 22 giờ thì N nhìn thấy nhóm của K đi 3 xe máy từ Nhổn về T và bị nhóm này ngồi trên xe máy chạy về khu vực cây xăng ở thôn P. Đ1 rủ thêm H4 đem theo vũ khí, P1 lấy cán chổi bằng nhôm rồi N chở P1 cầm kiếm của H4 cùng với các bạn đi tìm nhóm kia để đánh. Khi đi đến khu vực thôn L thì P1 thấy P cầm 1/3 viên gạch. Khi phát hiện nhóm đối phương, nhóm P1 định chặn đánh nhưng thấy đông người hơn nên lại bỏ chạy. Quãng đường đi tìm nhóm đối thủ khoảng 5km, cả nhóm của P1 đều phóng xe với tốc độ cao, có lúc khoảng 80km/h, lạng lách đánh võng, có lúc đi ngược chiều. Sau sự việc, nhóm P1 không có ai bị thương hay thiệt hại tài sản.

Đỗ Đức T8 T1 khai: Khoảng 22 giờ ngày 22/4/2025, T1 ngồi uống nước cùng với N và P1 ở thôn L, K. Khoảng 15 phút sau thì có Hữu P và Đ1 đến. Khoảng 23 giờ thì có một nhóm người đi xe máy đến gần nơi T1 và các bạn đang uống nước nói “đúng mấy thằng này đây rồi”, “thằng nọ no đây rồi”. Lúc này N nói “chết rồi, bọn thằng Khánh D2”. Trước khi bỏ chạy, T1 hô “tý ra cây xăng Đ4”. Sau đó, nhóm T1 lên xe bỏ chạy về đối diện cây xăng Đ4. T1 vào đổ xăng rồi đi đến nhà của Nguyễn Trung H4 rủ H4 đi giúp và nói với H4 về việc bị nhóm “K” đuổi đánh. H4 bảo T1 đợi để H4 lấy đồ rồi mang ra một cây kiếm. Khi cả nhóm gặp nhau ở chỗ đối diện cây xăng Đ4, cả nhóm thống nhất đi lên Lai xá tìm nhóm kia. Trước khi đi, P1 lấy cán chổi dũa đưa cho H4 còn H4 đưa kiếm cho Phong cầm. P cùng cầm nửa viên gạch, N điều khiển xe chở P1, T1 điều khiển xe chở H4, Đ1 điều khiển xe chở Hữu P. Khi gặp nhóm kia ở khu vực C1, hai nhóm cầm hung khí, đi xe với tốc độ cao từ 70- 80km/h, đuổi nhau khoảng 5- 10 phút trên đoạn đường khoảng 2- 3km, vừa đuổi vừa chửi và thách thức nhau khiến cho những người đi đường sợ hãi phải dạt ra hoặc dừng lại. Hai bên chỉ đuổi nhau và không đánh nhau nên không ai bị thương tích gì. Nhóm của T1 ít người hơn nên bỏ chạy. Trên đường về, H4, P vứt bỏ cán chổi và gạch. P1 đưa trả H4 kiếm rồi ai về nhà đó.

Nguyễn Trung H4 khai: Khoảng 23 giờ 22/4/2025, khi H4 đang ở nhà thì T1 gọi nói “xuống giúp cái, tao đang bị bọn nó đuổi”. H4 hiểu là T1 đang bị một nhóm khác đuổi đánh nên bảo T1 “sang đón đi”. Sau đó, H4 lấy một thanh kiếm dài khoảng 1m cất ở trong tủ quần áo trong phòng ngủ của H4 trên tầng 2 rồi ra ngõ đợi T1. Khoảng 23 giờ 15 phút, T1 đi xe Airblade màu đỏ, không lắp biển kiểm soát đón H4 đi đến khu vực cây xăng xã Đ gặp N, P1, Đ1 và Hữu P đang ở đó. Cả nhóm thống nhất đi lên khu vực Lai xá, Kim C tìm nhóm vừa đuổi đánh T1. H4 đưa kiếm cho P1 còn P1 đưa cán chổi bằng inox cho H4, P nhặt nửa viên gạch ở gần đó. N đi xe chở P1, T1 đi xe chở H4, Đ1 đi xe chở Hữu P. Cả nhóm đi từ cây xăng xã Đ ra đường C về hướng trung tâm Hà Nội. Khi đi đến C1 thì nhìn thấy nhóm thanh niên đi bên kia đường. T1 nói cho H4 biết đó là nhóm đối thủ. Hai bên nhìn thấy nhau thì chửi, thách thức nhau và cầm vũ khí rượt đuổi nhau trên đường với tốc độ cao khoảng 70- 80km/h, có lúc đi ngược chiều khiến cho người đi đường sợ hãi dạt sang hai bên đường hoặc phải dừng lại. Sau một hồi vòng quanh rượt đuổi nhau, nhóm của H4 thấy nhóm đối thủ đông người, nhiều vũ khí hơn nên bỏ chạy về hướng Nhổn rồi quay đầu. Trên đường quay về, H4 vứt bỏ cán chổi inox. Khi về đến cây xăng Đ, P1 đưa trả H4 kiếm, H4 mang về cất giấu trong tủ quần áo trong phòng ngủ của H4.

Nguyễn Hữu P khai: Khoảng hơn 22 giờ ngày 22/4/2025, P đi uống nước cùng với Đỗ Hùng N và 03 người bạn khác trong nhóm. Cả nhóm nói chuyện về việc N có mâu thuẫn với K và hẹn đánh nhau ở đoạn gần cổng chào H nên cả nhóm ngồi chờ xem nhóm của K có đến không. Đến khoảng gần 23 giờ, có một nhóm thanh niên đi xe máy gần đến nhóm của P ngồi nói đúng mấy thằng đây rồi. N nói đó là nhóm “Khánh D2”. Cả nhóm của P bỏ chạy. Một người trong nhóm hô “tý ra cây xăng Đ4” mọi người hiểu là về đó tụ lấy vũ khí để đi đánh nhau. T1 có rủ thêm H4 mang theo kiếm đến. Sau đó, nhóm P gồm N điều khiển xe chở P1, Đ1 chở P, T1 chở H4 cùng quay lại đoạn thôn L, Kim C để tìm nhóm “K”. Hung khí cả nhóm mang theo khi đi đánh nhau gồm có 01 kiếm do H4 mang đến, 01 cán chổi bằng inox P1 nhặt ở bãi rác khu vực nhóm P tụ tập và 1/3 viên gạch vỡ P nhặt ở cây xăng Lai xá lúc Đ1 vào đổ xăng. Quãng đường nhóm P đi từ cây xăng Đ4 đến đoạn thôn L khoảng 3km, nhóm P cầm vũ khí đi với tốc độ cao lạng lách, đánh võng. Khi gặp nhóm đối thủ thì chửi nhau và đuổi nhau khoảng 200m khiến cho những người đi đường sợ hãi phải dạt vào bên đường.

Đỗ Duy K khai: K và Đỗ Hùng N là bạn bè qua mạng xã hội. Ngày 21/4/2025, hai người cãi nhau qua tin nhắn. N thách thức K gặp để đánh nhau và K cũng trả lời đồng ý. Đến tối ngày 22/4/2025, N lại tiếp tục nhắn tin hẹn 23 giờ 30 đánh nhau ở cổng chào H. Do bực tức vì bị khiêu khích nên K trả lời đồng ý, sau đó K điều khiển xe Honda Vision màu trắng không lắp biển kiểm soát đi đón K1, kể cho K1 biết và rủ K1 cùng đi. K1 đồng ý. K đưa K1 đi đến khu công nghiệp vừa và nhỏ Từ L2, đến đoạn đường CN8, K bảo K1 đứng chờ còn K đi vào chỗ bụi rậm tìm lấy một thanh kiếm chuôi gỗ đưa cho K1 ngồi sau cầm. Đi về gần quán bia ở đường X thì gặp Nguyễn Đức L đi cùng 4 người nữa trên hai chiếc xe máy. K cũng nói chuyện N thách thức đánh nhau, L xin cùng đi với K để xem thế nào. Nếu có đánh nhau thì sẽ hỗ trợ. Nhóm của K và nhóm của N gặp nhau cách cổng chào Hoài Đức một đoạn. Hai nhóm đi xe lượn vòng đuổi nhau với tốc độ cao khoảng 70- 80km/h, vừa đi vừa chửi nhau ầm ĩ. K dừng xe ngả ra đường và lấy kiếm từ tay K1 để đuổi theo nhóm N thì nhóm N bỏ chạy. Những người đi đường đều phải dạt ra hoặc dừng lại không dám đi qua. Thấy hai xe khác của nhóm mình cũng đuổi theo N, K lại đưa kiếm cho K1 và lên xe đuổi theo đến đoạn N2 thì mất dấu nên mọi người giải tán. K và K1 đi về nơi ban đầu lấy kiếm để cất kiếm rồi về nhà. Do hai nhóm chỉ đuổi nhau nên không có ai bị thương tích gì.

Phạm Quang K1 khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/4/2025, K1 đang chơi bi a ở đường K, phường P thì K gọi điện rủ đi chơi, K1 đồng ý. Sau đó, K đón K1 ở quán B2. Trên đường đi, K1 thấy K gọi điện chửi nhau với một người và hẹn đánh nhau, K đi đến khu công nghiệp T lấy một thanh kiếm giấu trong bụi cây đưa cho K1. K và K1 đi đến quán bia trên đường G mới thì gặp Nguyễn Đức L và các bạn của L. K nói với mọi người về mâu thuẫn với nhóm Hoài Đ3 và rủ mọi người đi tìm để đánh nhau. Nhóm K1 có 7 người đi 3 xe máy. K1 ngồi sau xe K. Hai nhóm nhìn thấy nhau tại khu vực đèn xanh đèn đỏ gần cổng khu đô thị K- Dì Trạch rồi chửi, đuổi nhau trên đoạn đường khoảng 3km trong khoảng 5- 10 phút. Có lúc K đưa kiếm cho K1 cầm chạy đuổi theo xe của N. Nhiều người đi đường thấy hai nhóm cầm vũ khí đi xe tốc độ cao vừa đi vừa chửi, đuổi nhau thì đều sợ hãi.

Nguyễn Đức L khai: Tối ngày 22/4/2025, L đi ăn cùng các bạn ở đường X, Hà Nội. Tại đây, L nói chuyện với K và biết K có mâu thuẫn với N ở H. Hai người đang hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Hoàng Văn Đ2 rủ L đi uống nước nên L hẹn Đ2 và các bạn đến khu T, xã T; Đ rồi L đi về đó để gặp. Khi gặp Đ2, Công P2, B, H6, L nói chuyện K hẹn đánh nhau với N nhóm “nono” và rủ mọi người đi cùng xem. Nhóm 5 người của L đi hai xe máy quay lại chỗ K tụ tập ở trước cửa quán bia gần bãi tập kết rác trên đường X, N thì gặp K chở theo K1 mang theo kiếm đến. Tại đây, K nói với mọi người Ngọc hẹn đánh nhau ở cổng chào H thì nhóm L xin đi theo. Hoàng Xuân B điều khiển xe Honda Vision màu đen chở Nguyễn Bá H6 và L. Hoàng Văn Đ2 điều khiển xe Honda Wave màu tím than của Công P2 chở P2. Hai nhóm gặp và đuổi nhau ở đoạn đèn xanh, đèn đỏ gần cổng khu đô thị K- D. Lúc hai nhóm đuổi nhau, xe của Đ2 và B có đi ngược chiều để chặn đầu xe nhóm N. Có lúc K1 đưa kiếm cho L cầm đuổi theo nhóm N. Hai nhóm cầm vũ khí đuổi nhau trên đoạn đường khoảng hơn 1km trong khoảng 5- 10 phút thì nhóm N chạy thoát nên nhóm L cùng về nhà.

Nguyễn Bá H6 khai: Tối ngày 22/4/2025, H6 cùng với Công P2, Đ2, B đi uống nước ở T, T thì gặp L. L rủ cả nhóm đi xem đánh nhau. Khoảng 22 giờ 30 phút, cả nhóm đi đến bãi tập kết rác gần quán bia trên đường X thì gặp K và K1 đang cầm kiếm (lúc đó H6 chưa quen biết hai người). K nói đang có mâu thuẫn với nhóm N3 và hẹn đánh nhau ở cổng chào H, rủ mọi người lượn lên đó tìm để giải quyết mâu thuẫn. H6 và các bạn đều đồng ý đi xem, nếu có đánh nhau thì sẽ tham gia cùng để giúp K. H6 cùng với L ngồi sau xe do B điều khiển. Trên đường đi tìm nhóm N3, nhóm của H6 đều đi với tốc độ cao khoảng 60- 70km/h. Khi hai nhóm gặp nhau, xe của B và Đ2 cùng đi ngược chiều với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng để chặn đầu xe N.

Hoàng Xuân B khai: Khoảng 22 giờ ngày 22/4/2025, B đi chơi cùng các bạn là H6, Đ2 và Công P2. Đ2 có gọi điện rủ L đi cùng thì L hẹn mọi người đón ở T, T, Đan P5. Khi gặp L thì L rủ “đi với anh ra đây xem đánh nhau”, tất cả đồng ý. Nhóm B đi đến khu tập kết rác trên đường X, N thì gặp hai người bạn của L là K và K1. Bắc không để ý cụ thể mọi người nói gì nhưng B hiểu là chuẩn bị đi đánh nhau. Sau đó, B điều khiển xe Honda Vision màu đen của H6 chở H6 và L đi cùng xe của K và Đ2 điều khiển đi ra đường Quốc lộ 32 lên cổng chào H. Khi gặp hai xe chở 4 người nhóm đối thủ của K thì xe K đi đầu chửi bới, đuổi nhau với nhóm kia. Lúc K và K1 chạy bộ đuổi theo xe nhóm kia thì xe của H6 và Đ2 cũng quay đầu đuổi theo. Lúc vòng xe lại B thấy L cầm kiếm nhảy xuống xe chạy bộ đuổi theo nhóm kia cùng với K và K1. Mấy người chạy bộ đuổi không được lại tiếp tục lấy xe đuổi về đến cổng chào H thì mất dấu nên giải tán đi về. Đoạn đường hai nhóm đuổi nhau khoảng 1km, đi với tốc độ cao khoảng 60km/h, trên đường đuổi nhau thì hò hét, chửi nhóm kia.

Hoàng Văn Đ2 khai: Tối ngày 22/4/2025, Đ2 và Công P2, H6, B rủ nhau đi xem bắn pháo hoa ở sân vận động M. Đ2 gọi cho L rủ đi cùng thì L hẹn ra T có việc. Khi gặp L thì L bảo đi xem đánh nhau thế nào nên cả nhóm đi về chỗ tập kết rác ở đường X. Tại đây, cả nhóm tụ với hai người khác (K và K1) đi xe Honda Vision màu trắng là bạn của L rồi 7 người đi trên 3 xe máy đi tìm nhóm có mâu thuẫn với K để giải quyết mâu thuẫn. Đ2 điều khiển xe Honda Wave màu tím than của Công P2 chở P2 đi cùng xe của K và B đi với tốc độ cao khoảng 80km/h. Khi gặp nhóm có mâu thuẫn với K thì hai nhóm liên tục chửi và thách thức nhau. K cầm kiếm đuổi theo, đổ xe ra đường để chặn. Đ2 và B cũng điều khiển xe đi ngược chiều với tốc độ cao để chặn đầu xe của nhóm N.

Nguyễn Công P2 khai: Khoảng 20 giờ ngày 22/4/2025, P2 đi chơi cùng với Đ2, B và H6 rồi rủ thêm L thì L rủ đi xem bạn của L đánh nhau với nhóm nono thế nào, tất cả đều đồng ý. Nhóm P2 đi hai xe máy theo sự chỉ dẫn của L đi đến trước cửa quán bia trên đường X và gặp hai người bạn của L là K và K1 đi xe Honda Vision màu trắng đang đứng tại đây. K nói chuyện về việc mâu thuẫn với N nhóm nono ở H rồi rủ mọi người đi đánh nhau. K điều khiển xe chở K1. B điều khiển xe của H6 chở H6 và L còn P2 ngồi sau xe do Đ2 điều khiển.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hà Nội tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt chính:

  1. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Đỗ Hùng N với mức án từ 27 tháng đến 33 tháng tù. Buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung với Bản án số 256/2024 là từ 47 tháng đến 53 tháng tù, kể từ ngày 21/5/2025.
  2. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Bá H6 mức án từ 25 tháng đến 31 tháng tù. Buộc bị cáo H6 phải chấp hành hình phạt chung với bản án số 91/2024 (xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo) là 43 tháng đến 49 tháng tù.
  3. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119, 122 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt Nguyễn Đức L mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung với Bản án số 256/2024 là 33 tháng đến 39 tháng tù.
  4. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Đỗ Duy K mức án từ 27 tháng đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng.
  5. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Văn Đ1 mức án từ 26 tháng đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 tháng đến 60 tháng.
  6. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119, 122 Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội xử phạt Nguyễn Trung H4, Phạm Quang K1, Nguyễn Tiến Nam P1, Nguyễn Hữu P, Hoàng Xuân B, Hoàng Văn Đ2, Đỗ Đức Thiện T1 mức án từ 16 tháng đến 22 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng. Nguyễn Công P2 mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm do là vật cấm tàng trữ, lưu hành

Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí hình sự theo Điều 136 BLTTHS.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo B, K1, Đ2, Công P2, P1, H4, T1 và Hữu P phát biểu quan điểm bào chữa cho các bị cáo đều thừa nhận tội danh Viện kiểm sát đã truy tố là đúng và đề nghị hội đồng xem xét các bị cáo đều chưa thành niên, nhận thức còn nhiều hạn chế. Hầu hết gia đình các bị cáo đều vất vả, bố mẹ mải kiếm sống không có điều kiện để quan tâm sát sao đến các con nên các bị cáo không được quản lý, uốn nắn kịp thời dẫn đến việc phạm tội. Xin Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp, tạo điều kiện để cho các bị cáo nhận được sự giáo dục và phát triển tốt nhất, không làm ảnh hưởng đến tương lai sau này của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ án đã được điều tra, truy tố đúng thẩm quyền. Quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các văn bản và quyết định tố được ban hành đúng căn cứ, hợp pháp và khách quan. Các bị cáo và người đại diện, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ việc Đỗ Duy K và Đỗ Hùng N có mâu thuẫn với nhau nên vào tối ngày 22/4/2025, Đỗ Duy K, Đỗ Hùng N, Phạm Quang K1, Nguyễn Đức L, Nguyễn Bá H6, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Tiến Nam P1, Nguyễn Trung H4, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Hữu P, Hoàng Xuân B, Hoàng Văn Đ2, Nguyễn Công P2 đã cầm vũ khí, đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đi ngược chiều trên phần đường Quốc lộ 32 đoạn đi qua thôn L, xã H, thành phố Hà Nội hướng đi vào trung tâm Hà Nội, gây náo loạn, làm những người đi đường sợ hãi, gây tâm lý lo lắng, bất bình cho người dân sống tại khu vực thôn L.

[3] Hành vi của các bị cáo như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Thời gian gần đây, tình trạng tội phạm là người dưới 18 tuổi tụ tập đông người mang theo hung khí, sử dụng phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ đuổi đánh nhau trên đường, gây mất an toàn, mất trật tự công cộng có chiều hướng gia tăng, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người phải tham gia giao thông. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ phạm tội của từng bị cáo để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước. Phần lớn các bị cáo đang đi chơi với bạn biết được sự việc mâu thuẫn của bạn mình nên nảy sinh ý định cùng tham gia. Đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo thấy:

[5.1] Đỗ Hùng N, Nguyễn Đức L, Nguyễn Bá H6 đều có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử cũng về tội “Gây rối trật tự công cộng” và được cho hưởng án treo do thời điểm phạm tội còn chưa thành niên. Tuy nhiên, các bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội khi còn đang trong thời gian thử thách. Vì vậy, cần phải áp dụng đối với các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thích hợp, đồng thời tổng hợp với hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo để buộc các bị cáo chấp hành hình phạt chung.

[5.1.1] Đỗ Hùng N là người có mâu thuẫn với Đỗ Duy K, là nguyên nhân dẫn đến sự việc phạm tội của cả hai nhóm. Mặc dù lần phạm tội này bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm do lần phạm tội trước bị cáo chưa thành niên và phạm tội nghiêm trọng nhưng ở lần phạm tội lần này bị cáo đã thành niên. Do vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn so với H6 và L.

[5.1.2] Nguyễn Bá H6 cũng phạm tội khi đã thành niên, tuy nhiên khi tham gia gây rối, bị cáo chỉ ngồi sau xe của B, không cầm hung khí và chỉ tham gia hò hét, cổ vũ. Vì vậy, H6 sẽ được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với N.

[5.1.3] Nguyễn Đức L, tuy không có mâu thuẫn gì với người của nhóm kia nhưng khi biết K có mâu thuẫn với N và đang chuẩn bị đi đánh nhau, không những không can ngăn mà còn tích cực hưởng ứng rủ thêm người khác đi theo để giúp đỡ. Khi gặp nhóm đối thủ, L cầm kiếm chạy đuổi theo. Vì vậy, L được đánh giá là một trong số những người có vai trò đứng đầu. Tuy nhiên, khi phạm tội, bị cáo mới hơn 17 tuổi nên sẽ chỉ phải chịu mức hình phạt bằng 3/5 mức hình phạt khi áp dụng đối với người đã thành niên.

[5.1.4] Khi quyết định hình phạt đối với N, H6 và L, Hội đồng xét xử cũng xét đến các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo N đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để nhận diện, giúp cơ quan điều tra mở rộng phạm vi điều tra phát hiện hành vi phạm tội của nhiều bị cáo khác trong vụ án để xử lý đúng người, không bỏ lọt. Bị cáo H6 có ông nội là Liệt sỹ chống Pháp. Bị cáo L có hoàn cảnh đáng thương, bố bị cáo mất sớm. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5.2] Đỗ Duy K có mâu thuẫn với Đỗ Hùng N, bị N nhắn tin khiêu khích thách thức đánh nhau. Không kiềm chế được sự bực tức cá nhân nên đã cùng các bạn mình chuẩn bị hung khí để đi đánh nhau và gây rối trên đường giao thông. K cũng là nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của hai nhóm. Với vị trí, vai trò như vậy, lẽ ra cũng phải áp dụng với bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội để răn đe bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cân nhắc bị cáo phạm tội không bị áp dụng tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực phối hợp với cơ quan điều tra để xử lý các đồng phạm khác; bị cáo lớn lên trong hoàn cảnh gia đình có nền tảng cơ bản tốt, ông nội bị cáo có thành tích trong công tác chống lũ lụt được UBHC Từ Liêm tặng Giấy khen; cả ông, bà ngoại của bị cáo đều tham gia quân đội được nhà nước tặng thưởng nhiều Bằng khen và Huy chương; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, năm học 2023-2024 bị cáo được nhà trường tặng Giấy khen về thành tích học tập và rèn luyện tốt; hiện tại bị cáo đang là sinh viên năm thứ hai của Trường Cao đẳng B1. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo có cơ hội tiếp tục việc học tập rèn luyện trong môi trường học đường cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5.3] Nguyễn Tiến Nam P1, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Trung H4, Nguyễn Hữu P và Phạm Quang K1 đều cầm hung khí tham gia gây rối. Nguyễn Văn Đ1, Hoàng Xuân B, Hoàng Văn Đ2 điều khiển xe chở các bị cáo khác đi trên đường với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng. Tuy nhiên, bị cáo P1, T1, H4, P, K1, B và Đ2 đều phạm tội khi chưa thành niên, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn bồng bột, nông nổi. Các bị cáo cũng không phải là người khởi xướng, cầm đầu. Tiêu chuẩn về tình cảm bạn bè của các bị cáo chưa đúng đắn nên đã tham gia ủng hộ bạn giải quyết mâu thuẫn bằng phương thức tiêu cực. Xét các bị cáo đều phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo K1 đang đi học là sinh viên trường Cao đẳng B1 và có ông ngoại là người có công với cách mạng; bị cáo Đ2 có hoàn cảnh gia đình éo le, bố mẹ bị cáo ly hôn, bố bị cáo một mình nuôi 03 người con; bị cáo Đ1 có mẹ mắc bệnh nghiêm trọng phải điều trị thường xuyên tại bệnh viện. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định phạt tù nhưng khoan hồng cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giáo dục của nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương nơi cư trú, để các bị cáo được tiếp tục đi học, trở thành công dân có ích.

[5.4] Nguyễn Công P2 phạm tội khi chưa 18 tuổi, tham gia với vai trò thứ yếu, không cầm hung khí, chỉ ngồi sau xe của người khác hô, hét. Hành vi của bị cáo có mức độ ít nghiêm trọng hơn nhiều so với các bị cáo khác. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

[6] Xử lý vật chứng: 01 thanh kiếm dài 01m bằng kim loại, chuôi màu đen, lưỡi màu trắng, đầu nhọn, có vỏ bằng gỗ màu đen là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

[6.1] Đối với những chiếc xe máy các bị cáo sử dụng khi tham gia gây rối là tài sản của bố, mẹ các bị cáo nhưng không biết các con của họ lấy xe đi gây rối nên không phạm tội. Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được xe do gia đình các bị cáo đã bán nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với những chiếc xe đó.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Đỗ Hùng N 27 ( hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 20 tháng tù theo bản án số 256/2024/HSST ngày 31/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm buộc Đỗ Hùng N phải chấp hành hình phạt chung là 47 (Bốn mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2025. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến 27/6/2024 theo bản án số 256/2024/HSST.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Bá H6 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù theo bản án số 91/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai buộc Nguyễn Bá H6 phải chấp hành hình phạt chung là 43 (Bốn mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2025.

  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 119; Điều 122 Luật tư pháp người chưa thành niên.

    Xử phạt: Nguyễn Đức L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù theo bản án số 256/2024/HSST ngày 31/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm buộc Nguyễn Đức L phải chấp hành hình phạt chung là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2025. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến ngày 31/8/2024 theo bản án số 256/2024/HSST.

  4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Đỗ Duy K 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao Đỗ Duy K cho UBND phường X, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  5. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Văn Đ1 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  6. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Đỗ Đức Thiện T1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  7. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Nguyễn Tiến Nam P1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Đức Thiện T1, Nguyễn Tiến Nam P1 cho UBND xã D, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  8. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Nguyễn Trung H4 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao bị cáo Nguyễn Trung H4 cho UBND xã H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  9. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Nguyễn Hữu P 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao bị cáo Nguyễn Hữu P cho UBND xã S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  10. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Phạm Quang K1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao bị cáo Phạm Quang K1 cho UBND phường P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  11. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Hoàng Văn Đ2 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  12. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: H (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  13. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên

    Xử phạt: Nguyễn Công P2 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Giao các bị cáo Hoàng Văn Đ2, Hoàng Xuân B và Nguyễn Công P2 cho UBND xã Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

14. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm dài 01m bằng kim loại, chuôi màu đen, lưỡi màu trắng, đầu nhọn, có vỏ bằng gỗ màu đen. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8- Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2025).

15. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

16. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện theo pháp luật và người bào chữa của các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND khu vực 8- Hà Nội;

- CQTHAHS thành phố Hà Nội;

- THADS thành phố Hà Nội;

- Bị cáo; Người đại diện, người bào chữa

của bị cáo,............;

- Trại tạm giam;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2026/HS-ST ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 06/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger